Nghệ thuật trào phúng trong chương “Hạnh phúc của một tang gia”

0
2349

Đề ra: phân tích nghệ thuật trào phúng trong chương “Hạnh phúc của một tang gia” (Trích Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng)

HƯỚNG DẪN CHI TIẾT

Xem thêm: KHOÁ HỌC NGỮ VĂN ĐẠT ĐIỂM 8+

I. MỞ BÀI

Vũ Trọng Phụng là cây bút có sức sáng tạo dồi dào. Ông đã để lại một số lượng tác phẩm đồ sộ, tiêu biểu nhất là phóng sự, tiểu thuyết như “Số đỏ”, “Cạm bẫy người”, “Kỹ nghệ lấy Tây”, “Trúng số độc đắc”… Sáng tác của Vũ Trọng Phụng phản ánh chân thực hiện thực xã hội đen tối, thối nát đương   thời bằng bút pháp trào phúng đặc sắc. Đặc biệt là đoạn trích “Hạnh phúc của  một tang gia” (trích “Số đỏ”) thể hiện rõ nét nhất bút pháp trào phúng bậc thầy của ông.

II. THÂN BÀI

1.Khái quát trước khi phân tích:

 “Hạnh phúc của một tang gia” là tựa đề chương XV của tiểu thuyết “Số đỏ”. Ở chương này, Vũ Trọng Phụng miêu tả đám tang của cụ cố tổ, qua đó dựng lên một màn hài kịch với mâu thuẫn trào phúng, chân dung biếm họa có giá trị tố cáo sâu sắc.

Vậy “nghệ thuật trào phúng” là gì?  Đó là nghệ thuật nhà văn dùng ngòi bút của mình để tạo ra tiếng cười thâm thúy nhằm đả kích, phê phán một đối tượng hay hiện tượng xã hội nào đấy. Ở đây, chính là đả kích châm biếm bọn tư sản giàu có, rởm đời đang làm băng hoại những giá trị đạo đức truyền thống.

2. Phân tích cụ thể cần đạt các ý sau:

2.1. Mâu thuẫn trào phúng thể hiện rõ nét ở cuối chương XIV, theo lời nhờ vả của ông Phán, cháu rể cụ cố tổ, Xuân tóc đỏ đã chào ông Phán mọc sừng ! Lời chào đó đã khiến cụ cố tổ uất ức vì có cô cháu gái hư hỏng và lên cơn bệnh đến nỗi sắp chết. Xuân sợ hãi bỏ chạy như một thằng ăn cắp. Nhưng mọi người lại tưởng hắn là thầy thuốc chính hiệu vì giận nên đã quên hết lương tâm nghề nghiệp. Trong khi Xuân sợ hãi trốn tránh, cả gia đình cụ cố tổ lại mang ơn Xuân vì làm cho cụ cố tổ chết. Cái chết của cụ đáp ứng sự chờ mong của mọi thành viên trong gia đình, vì từ đây họ có thể chia nhau cái gia tài kếch xù. Như vậy, một kẻ có tội như Xuân ngờ đâu lại trở thành có đại công với gia đình. Xuân càng trốn chạy sợ tội thì danh dự lại càng to thêm. Thật là đáng nực cười, đúng như tác giả viết, “đó là một bài học cho những kẻ nào dám bảo một người như Xuân là con nhà hạ lưu, ma cà bông, vô học, vô lại, nhặt ban quần”.

2.2. Không phải ngẫu nhiên mà nhà văn lấy nhan đề của chương truyện này là “Hạnh phúc của một tang gia”. Nhan đề tạo sự chú ý, tò mò cho người đọc, tạo sự nghịch lí, đối lập gây tiếng cười thâm thúy: “Tang gia”, đau đớn, u buồn, ảm đạm. “Hạnh phúc”, sung sướng, được thoả mãn nguyện vọng. Đã “tang gia” thì còn gì là “hạnh phúc”? Nhưng tác giả đã chỉ ra được rất nhiều cái hạnh phúc và rất nhiều những kịch tính trào phúng khác. Nhà văn mở đầu đoạn trích từ chỗ “Ba hôm sau ông cụ già chết thật” mà suốt chương truyện không khí cứ rộn rã tưng bừng. Nhân vật trong truyện sung sướng, hạnh phúc, đó là niềm hạnh phúc của một gia đình vô phúc, niềm vui của lũ con cháu đại bất hiếu.

2.3. “Hạnh phúc của một tang gia” chỉ là một chương nhỏ của tác phẩm “Số đỏ” nhưng dường như nhà văn Vũ Trọng Phụng đặt các nhân vật vốn dĩ đã đốn mạt ở các chương trên vào hoàn cảnh “tang gia” để cái bản chất lừa lọc, bịp bợm, thất đức, bất hiếu càng rõ nét, chân thật hơn. “Tang gia” gắn với đau khổ, mất mát nhưng ở đây lại diễn ra nghịch cảnh, mọi người trong gia đình đều hạnh phúc, mà niềm hạnh phúc ấy lại diễn ra muôn màu muôn vẻ:

Cụ cố Hồng vốn hiếu danh, thích được già để mọi người gọi là cố, sung sướng tưởng tượng ra cảnh được “mặc áo xô gai, chống gậy lụ khụ, vừa ho khạc, vừa khóc mếu”, để được khen: “Úi kìa, con giai nhớn đã già thế kia à”. Được thoải mái hút thuốc phiện và gắt gỏng với câu “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi” mà thằng bồi tiêm đếm được 1872 lần.

Vợ chồng Văn Minh và ông Typn vui mừng vì đây là dịp tốt để lăng xê các mốt quần áo của tiệm may Âu Hóa và tờ “chúc thư đã đi vào thời kỳ thực hành chứ không còn phải là lý thuyết viễn vông nữa”. Ông Văn Minh với khuôn mặt “hợp với nhà có đám” đã lừa được cả thiên hạ vì ai cũng nghĩ ông có hiếu, thực ra khuôn mặt “đăm đăm chiêu chiêu” của ông là đang phân vân không biết đối xử với Xuân như thế nào vì Xuân mang “hai cái tội nhỏ, một cái ơn to”.

Ông Phán nhận thấy cái sừng hươu trên đầu mình rất có giá trị vì ông sẽ được thêm vài nghìn đồng trong phần chia gia tài.

Cô Tuyết sung sướng có dịp mặc bộ váy ngây thơ, để chứng tỏ mình còn trong trắng và thể hiện khuôn mặt buồn lãng mạn rất đúng mốt (Buồn vì Xuân không đến chứ không phải buồn vì đám tang).

Cậu Tú tân, nhân dịp này chứng minh hiệu quả của máy ảnh  vì cậu có mấy cái máy ảnh mà chưa có dịp thực hành.

Cái chết của cụ cố tổ không chỉ làm cho người trong gia đình cụ cố Hồng vui sướng mà còn mang hạnh phúc đến cho những người ngoài gia đình. Cảnh sát Min đơ và Min Toa bỗng có việc làm và có tiền. Bạn bè của cụ cố có dịp khoe các huy chương “vạn tượng bội tinh” và đủ kiểu râu ria nhưng sung sướng nhất và cảm động nhất là được nhìn thấy làn da trắng thập thò trên cánh tay và ngực Tuyết. Gia đình, phố phường tưng bừng huyên náo như ngày hội. Bọn con cháu vô tâm ai cũng sung sướng thoả thích… “Người ta tưng bừng vui vẻ đi đưa giấy cáo phó”, gọi phường kèn, thuê xe đám ma…

Với những mâu thuẫn trên, đặc biệt là việc miêu tả tỉ mỉ niềm hạnh phúc của mọi người trước cái chết của cụ cố tổ, Vũ Trọng Phụng đã lột bộ mặt thật của xã hội lố lăng, chuộng hình thức, không chút tình người, vạch chân tướng của những hạng người mang danh thượng lưu, trí thức, văn minh nhưng thực chất là cặn bã, là đạo đức giả. Đó là chưa kể đến việc lợi dụng đám tang để giải quyết việc hôn nhân cho cô Tuyết hòng xóa đi tiếng xấu hư hỏng “một nửa” của cô.

2.4. Để tô đậm ý nghĩa trào phúng, nhà văn đã xây dựng và chọn lọc được nhiều chi tiết ấn tượng:

Đó là cảnh đám ma được tổ chức rất đông rất to “có kiệu bát cống, lợn quay đi lọng”, có đủ cả kèn ta, kèn tây, kèn tàu, cũng có tới ba trăm câu đối. Người đưa tang đến vài ba trăm, có đủ cả giai thanh gái lịch. Đi tới đâu làm huyên náo tới đó, nhưng tất cả mọi người đi đưa ma không hề có ai quan tâm đến người chết. Người thì trò chuyện về vợ con, nhà cửa, về một cái tủ mới sắm, một cái áo mới mua, người thì tận dụng cơ hội đưa ma để chọc ghẹo, cười tình hoặc bình phẩm, chê bai nhau. Nhà văn đã phải đau lòng mà bình luận : “Đám ma to tát có thể làm cho người chết trong quan tài cũng phải mỉm cười sung sướng, nếu không gật gù cái đầu”. Miêu tả hình thức đám tang với mọi nghi thức long trọng, tác giả làm nổi bật lên cái cần có mà lại không có của đám tang này là tình người. Điều này thật khác với đám tang của lão Gorio trong trang văn của Banzắc. Dù Gorio bị con cái bỏ rơi nhưng dù sao cuối truyện còn có giọt nước mắt của chàng sinh viên Ratinhắc rớt xuống như một lời tiễn biệt, còn ấm lên một chút tình người. Còn ở đây, đám con cháu đại bất hiếu nhà cụ cố Hồng chỉ là những kẻ cơ hội.

Ở một điểm khác Vũ Trọng Phụng bắt gặp “Phái trẻ la ó”, “cậu Tú tân điên người”, bà Văn Minh sốt ruột, ông Typn bực mình… Mọi người điên lên. Hoá ra người ta sốt ruột  không vì người chết mà vì cái xác chết ấy sao không mau chóng được chôn để họ được hưởng “Hạnh phúc của một tang gia”. Mỉa mai thay cái gia đình ấy.

Mỉa mai thay nữa là cảnh cậu Tú tân bắt mọi người phải đóng kịch để chụp hình: người phải chống gậy, gục đầu, người phải lau nước mắt… Nếu coi đoạn trích là một tấn bi hài kịch thì mỗi người là một vai hề trình độ.

Cuối cùng phải nói đến cảnh ông Phán oặt người đi, khóc thảm thiết rồi ngả vào Xuân. Mỉa mai thay, đúng lúc xót thương lên đến cao độ cũng là lúc ông Phán tranh thủ thanh toán sòng phẳng số tiền thuê Xuân bằng cách “dúi vào tay nó một cái giấy bạc năm đồng gấp tư”.

2.5. Góp phần cho tiếng cười đầy mỉa mai còn phải kể đến ngôn ngữ của tác phẩm: Khi kể chuyện, bao giờ Vũ Trọng Phụng cũng có sự kết hợp những ngôn từ trái ngược nhau trong một câu văn để làm bật lên sự vô nghĩa lý của cuộc đời. Chẳng hạn, tác giả gọi nhà đám là “bầy con cháu chí hiếu chỉ nóng ruột đem chôn cho chóng cái xác chết của cụ tổ”…, hoặc tác giả miêu tả : “Thật là một đám to tát có thể làm cho người chết nằm trong quan tài cũng phải mỉm cười sung sướng, nếu không gật gù cái đầu…”. Vũ Trọng Phụng quả đúng là bậc thầy của ngôn ngữ trào phúng.

Lưu Trọng Lư nhận xét về con người Vũ Trọng Phụng: “Trên trang viết Vũ Trọng Phụng sắc sảo bao nhiêu thì trong cuộc đời Vũ Trọng Phụng càng chân thành bấy nhiêu. Con người ấy không giết quá một con muỗi. Nhưng thật kì diệu, văn chương của con người ấy làm cho kẻ trọc phú phải giật mình, kẻ trưởng giả phải cáu kỉnh.” Đọc “Số đỏ” nhiều nhà nghiên cứu cùng nhận xét rằng:  “Đây là cái bi của người chết, cái hài của xã hội, cái vô phúc của gia đình giàu sang lắm tiền nhiều của nhưng thiếu tình người”

III. KẾT BÀI

Đám tang cụ cố tổ đã được miêu tả bằng một nghệ thuật trào phúng điêu luyện khiến cho người ta phải mỉm cười nhưng là nụ cười xót xa cho sự lừa dối. Với “Hạnh phúc của một tang gia”, Vũ Trọng Phụng đã phanh phui, bóc trần cả một xã hội giả dối “chó đểu”. Với cách viết trào phúng, với những chi tiết đầy kịch tính, tác giả đã khắc họa một cách sâu sắc những chân dung biếm họa trào phúng. Qua tiếng cười ấy là nỗi đau xót của nhà văn trước xã hội lừa lọc, giả dối, lố lăng, vô đạo đức. Ngòi bút tài hoa của Vũ Trọng Phụng đã giúp người đọc nhìn thấu và suy ngẫm sâu sắc hơn về cuộc đời, về con người.

Thầy Phan Danh Hiếu

Xem thêm: KHOÁ HỌC NGỮ VĂN ĐẠT ĐIỂM 8+

Bình luận

Phản hồi của bạn

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây