Đề ra: Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) so sánh, đánh giá đặc sắc về nội dung, nghệ thuật
của hai đoạn thơ sau:
Nếu vấp ngã, con tự mình đứng dậy
Muốn tập bơi, cứ nhảy xuống giữa dòng
Thà mất cả, cố giữ gìn danh dự
Sống thẳng mình, mặc kệ thế gian cong
(Trích Nói với con, Nguyễn Huy Hoàng4, tập thơ Vẫn còn có bao điều tốt đẹp, NXB Văn
học, 2008, tr.29)
Không có gì tự đến đâu con
Quả muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựa
Hoa sẽ thơm khi trải qua nắng lửa
Mùa bội thu phải một nắng hai sương.
(Trích Không có gì tự đến đâu con, Nguyễn Đăng Tấn, Tuyển tập thơ Lời ru vầng trăng, NXB
Lao động, 2000, tr.42)
BÀI THAM KHẢO
Văn học, ở một phương diện sâu xa, chính là nơi con người gửi lại những kinh nghiệm sống đã được chưng cất bằng cảm xúc và suy tư. Bởi thế, những bài thơ hay viết cho con không chỉ là tiếng nói của tình thân mà còn là sự truyền trao một hệ giá trị sống từ thế hệ đi trước đến thế hệ đi sau. Hai đoạn thơ trong Nói với con của Nguyễn Huy Hoàng và Không có gì tự đến đâu con của Nguyễn Đăng Tấn cùng cất lên từ điểm tựa ấy: lời cha dặn con. Tuy nhiên, nếu đoạn thơ của Nguyễn Huy Hoàng nghiêng về bồi đắp bản lĩnh đạo đức và tư thế làm người, thì đoạn thơ của Nguyễn Đăng Tấn lại nhấn mạnh quy luật tạo dựng thành quả bằng lao động, bền bỉ và nhẫn nại. Chính trong sự gặp gỡ và khác biệt đó, hai đoạn thơ đã để lại những dư vang đáng suy ngẫm.
Trước hết, cả hai đoạn thơ đều gặp nhau ở cảm hứng nhân văn đẹp đẽ: dùng thơ để nói chuyện làm người. Ẩn sau lời thơ là tình yêu thương, là niềm tin, là khát vọng của người cha mong con trưởng thành. Cả hai đều không nói bằng giọng áp đặt, giáo huấn khô cứng mà chọn hình thức trò chuyện, nhắn nhủ. Điều đó khiến thơ giàu sức lay động, bởi như Belinsky từng quan niệm, tác phẩm nghệ thuật chân chính luôn bắt đầu từ “một tư tưởng thấm nhuần cảm xúc”. Ở đây, tư tưởng về lẽ sống không đứng riêng rẽ mà hòa vào tình phụ tử, nên lời dạy hiện lên vừa tha thiết vừa bền sâu.
Về nghệ thuật, hai đoạn thơ đều sử dụng giọng điệu tâm tình, lời thơ mang tính dạy bảo của người đi trước dành cho con, kết hợp với hình ảnh ẩn dụ gần gũi từ đời sống và thiên nhiên (tập bơi, quả ngọt, hoa thơm, mùa bội thu). Ngôn ngữ giản dị, giàu tính khái quát, nhịp thơ ngắn gọn giúp lời khuyên trở nên sâu sắc và dễ thấm vào lòng người.
Tuy nhiên, điểm quan trọng nhất của một bài so sánh không nằm ở chỗ nói hai đoạn thơ giống nhau thế nào, mà ở chỗ nhận ra mỗi đoạn thơ đã chọn một “lối vào” riêng để kiến tạo chân lí sống. Với Nguyễn Huy Hoàng, lời cha hướng con đến tư thế sống giữa cuộc đời nhiều va đập và cong vênh:
“Nếu vấp ngã, con tự mình đứng dậy
Muốn tập bơi, cứ nhảy xuống giữa dòng
Thà mất cả, cố giữ gìn danh dự
Sống thẳng mình, mặc kệ thế gian cong”
Bốn câu thơ ngắn mà dồn nén một trường ý nghĩa mạnh mẽ. Câu đầu tiên nhấn vào khả năng tự phục sinh của con người sau đổ vỡ: “vấp ngã” không đáng sợ bằng việc không thể đứng lên. Cụm từ “tự mình” là nhãn tự của câu thơ, bởi nó đặt con người vào thế chủ động, tự chịu trách nhiệm trước đời sống của chính mình. Trưởng thành, xét đến cùng, là quá trình con người thôi dựa dẫm để tự bước bằng đôi chân của mình. Đến câu thơ thứ hai, lời dạy chuyển từ thế bị động sang thế chủ động dấn thân: “Muốn tập bơi, cứ nhảy xuống giữa dòng”. Hình ảnh ấy không chỉ là kinh nghiệm thực tế mà còn là một ẩn dụ đẹp cho lẽ sống: muốn có năng lực, phải bước vào thử thách; muốn hiểu đời, phải đi giữa dòng đời. Không có bản lĩnh nào được sinh ra từ bờ an toàn.
Đặc biệt, hai câu sau mở chiều sâu tư tưởng cho đoạn thơ. Nếu hai câu đầu nói về nghị lực sống, thì hai câu cuối khẳng định phẩm giá sống:
“Thà mất cả, cố giữ gìn danh dự
Sống thẳng mình, mặc kệ thế gian cong”
Ở đây, nhà thơ không chỉ dạy con cách vượt khó, mà còn dạy con cách giữ mình giữa một thực tại có thể “cong” về chuẩn mực, lệch về giá trị. Cặp đối lập “thẳng” – “cong” tạo nên trục tư tưởng sắc nét: con người có thể đối diện một thế giới không hoàn hảo, nhưng không vì thế mà đánh mất sự chính trực. Nếu nói theo ngôn ngữ lí luận, đoạn thơ đã chạm tới hạt nhân đạo đức của nhân cách. Nó không chỉ khuyên con thành công, mà khuyên con làm người tử tế. Câu thơ “Thà mất cả, cố giữ gìn danh dự” mang âm hưởng quyết liệt, gần như một lời thề nhân cách. Ở đây, danh dự được đặt cao hơn lợi ích, phẩm giá được đặt cao hơn sự được – mất thông thường. Đó chính là chiều cao tư tưởng của đoạn thơ.
Nếu Nguyễn Huy Hoàng đặt trọng tâm vào tư cách làm người, thì Nguyễn Đăng Tấn lại dẫn con đến một triết lí khác: không có giá trị nào tự nhiên mà có.
“Không có gì tự đến đâu con
Quả muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựa
Hoa sẽ thơm khi trải qua nắng lửa
Mùa bội thu phải một nắng hai sương.”
Câu mở đầu như một mệnh đề khái quát, ngắn gọn mà chắc gọn: “Không có gì tự đến đâu con”. Nó giống một chìa khóa tư tưởng mở ra toàn bộ đoạn thơ. Nếu Nguyễn Huy Hoàng dùng chuỗi động từ mạnh để đẩy con vào thử thách, thì Nguyễn Đăng Tấn lại dùng quy luật của tự nhiên để dẫn con đến nhận thức. “Quả muốn ngọt”, “hoa sẽ thơm”, “mùa bội thu” đều là những hình ảnh đẹp của thành quả, nhưng nhà thơ không ngắm nhìn kết quả ở bề mặt mà đi sâu vào quá trình tạo nên kết quả ấy: “tích nhựa”, “nắng lửa”, “một nắng hai sương”. Thành công, vì thế, không còn là món quà bất ngờ mà là kết tinh của nhọc nhằn, tích lũy, bền bỉ.
Cái hay của đoạn thơ này nằm ở việc tác giả lựa chọn hệ thống hình ảnh thiên nhiên mang tính ẩn dụ. “Quả”, “hoa”, “mùa” không chỉ là sự vật của tự nhiên mà đã trở thành biểu tượng cho những giá trị trong đời sống con người. Từ quy luật của cây trái, nhà thơ gợi ra quy luật của đời người: muốn trưởng thành phải biết chịu đựng, muốn gặt hái phải biết vun trồng. Nếu đoạn thơ của Nguyễn Huy Hoàng nghiêng về sắc thái khích lệ, thôi thúc, thì đoạn thơ của Nguyễn Đăng Tấn lại giàu chất chiêm nghiệm. Nó không đánh thức con bằng một mệnh lệnh sống quyết liệt, mà thấm vào con bằng sự từng trải của một người đã đi qua đời sống và hiểu rằng mọi vẻ đẹp đều có giá của nó.
Như vậy, sự khác biệt giữa hai đoạn thơ trước hết là khác biệt về trọng tâm nội dung. Nguyễn Huy Hoàng nhấn mạnh bài học về bản lĩnh, danh dự, sự chính trực; Nguyễn Đăng Tấn nhấn mạnh bài học về lao động, sự tích lũy, đức kiên trì. Một bên hướng con vào câu hỏi: sống thế nào cho ngay thẳng?; một bên hướng con vào câu hỏi: sống thế nào để tạo nên giá trị?. Một bên thiên về đạo lí nhân cách, một bên thiên về triết lí thành quả. Hai hướng ấy không đối lập mà bổ sung cho nhau, bởi con người muốn đi xa không chỉ cần năng lực mà còn cần nhân cách; không chỉ cần ý chí phấn đấu mà còn cần sự ngay thẳng để giữ mình.
Sự khác biệt ấy còn thể hiện rõ ở phương diện nghệ thuật. Đoạn thơ Nguyễn Huy Hoàng giàu tính hành động với các động từ mạnh: “đứng dậy”, “nhảy xuống”, “giữ gìn”, “sống thẳng”. Nhịp thơ ngắn, chắc, giọng thơ rắn rỏi, tạo nên âm hưởng của một lời dặn mạnh mẽ, dứt khoát. Trái lại, đoạn thơ Nguyễn Đăng Tấn thiên về hình ảnh ẩn dụ, ngôn ngữ mềm hơn, nhịp thơ chậm hơn, giọng thơ trầm tĩnh và chiêm nghiệm. Nếu ví von, thơ Nguyễn Huy Hoàng giống một bàn tay đặt lên vai con để truyền sức mạnh, thì thơ Nguyễn Đăng Tấn giống một ngọn đèn lặng lẽ soi sáng quy luật của đời sống. Mỗi đoạn một vẻ, nhưng đều đạt tới phẩm chất của thơ hay: ngắn mà gợi nhiều, ít lời mà nhiều dư ba.
Sự giống nhau trước hết xuất phát từ đề tài và cảm hứng chung: cả hai đoạn thơ đều là lời nhắn nhủ của người đi trước dành cho con về cách sống và trưởng thành, nên cùng sử dụng giọng điệu tâm tình, triết lí. Tuy nhiên, sự khác biệt lại bắt nguồn từ phong cách sáng tác và cách cảm nhận riêng của mỗi tác giả. Nguyễn Huy Hoàng thiên về lời khuyên trực diện, mạnh mẽ, nhấn mạnh bản lĩnh và danh dự; còn Nguyễn Đăng Tấn lại nghiêng về hình ảnh thiên nhiên giàu ẩn dụ, gợi triết lí về quy luật nỗ lực và trưởng thành của đời người.
Từ góc nhìn lí luận văn học, có thể nói cả hai đoạn thơ đều cho thấy chức năng giáo dục của văn chương, nhưng đó không phải sự giáo huấn khô cứng mà là sự cảm hóa từ trái tim. Văn học chân chính không dừng ở việc “nói cho biết” mà phải “làm cho tin, cho yêu, cho muốn sống đẹp hơn”. Hai đoạn thơ này đã làm được điều đó. Chúng khiến người đọc không chỉ hiểu một bài học sống, mà còn cảm thấy những bài học ấy đi ra từ tình yêu thương, từ trải nghiệm, từ niềm mong mỏi chân thành của người cha.
Hai đoạn thơ là hai tiếng nói đẹp của tình phụ tử trong thơ ca hiện đại. Nguyễn Huy Hoàng để lại ấn tượng bởi lời dạy về bản lĩnh và danh dự; Nguyễn Đăng Tấn chạm đến người đọc bằng triết lí về sự nỗ lực và tích lũy. Một đoạn thơ dạy con đứng thẳng làm người, một đoạn thơ dạy con bền bỉ tạo nên giá trị sống. Đọc cả hai, ta hiểu rằng hành trang cần nhất để bước vào đời không chỉ là tri thức hay khát vọng, mà còn là nhân cách ngay thẳng và ý chí bền bỉ trước mọi thử thách của cuộc đời.
