BỒI DƯỠNG HSG VĂN
HỌC LÝ LUẬN PHẢI ĐI LIỀN VỚI VIỆC XÂY DỰNG “KHO DẪN CHỨNG CHIẾN LƯỢC”
Lý luận văn học chỉ thực sự có sức sống khi được soi chiếu qua những tác phẩm cụ thể. Mọi khái niệm về hiện thực, con người, phong cách, hình tượng, ngôn ngữ hay quá trình sáng tạo, dù được khái quát ở tầng cao đến đâu, cuối cùng vẫn phải trở về với thế giới sinh động của văn chương. Vì thế, trong quá trình ôn thi học sinh giỏi, học sinh không nên học lý luận và tác phẩm như hai mảng kiến thức tách biệt: một bên là những khái niệm trừu tượng để ghi nhớ, một bên là những tác phẩm để kể lại và phân tích. Điều cần thiết là thiết lập được mối quan hệ hai chiều. Đó là dùng lý luận để nhìn sâu vào cấu trúc nghệ thuật của tác phẩm, đồng thời dùng tác phẩm để kiểm chứng, cụ thể hóa và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận. Nếu lý luận là chiếc chìa khóa mở cánh cửa văn chương thì tác phẩm chính là căn phòng rộng lớn, nơi người đọc được chạm vào những bí mật của sáng tạo nghệ thuật.
Bởi vậy, thay vì chạy theo số lượng, đọc thật nhiều tác phẩm nhưng chỉ nhớ tên nhân vật, cốt truyện và một vài chi tiết nổi bật, học sinh cần chủ động xây dựng cho mình một “kho dẫn chứng chiến lược”. Đó không phải là một kho chứa đồ sộ, càng không phải danh sách dài những tác phẩm được học thuộc một cách máy móc, mà là hệ thống những tác phẩm tiêu biểu được lựa chọn kĩ, đọc sâu, hiểu chắc và có khả năng vận dụng linh hoạt vào nhiều vấn đề lý luận khác nhau. Trong bài thi học sinh giỏi, sức nặng của dẫn chứng không nằm ở chỗ người viết biết bao nhiêu tác phẩm, mà ở khả năng từ một tác phẩm có thể phát hiện được bao nhiêu chiều sâu tư tưởng và nghệ thuật. Một dẫn chứng được đặt đúng vị trí, phân tích đến tận cùng và gắn chặt với luận điểm luôn có sức thuyết phục hơn hàng loạt tên tác phẩm chỉ được điểm qua như những vật trang sức.
Đặc biệt, các em nên chủ động mở rộng nguồn dẫn chứng từ văn học đương đại. Đây là một “vùng” sáng tác phong phú, nơi nhà văn không chỉ phản ánh những biến động sâu sắc của đời sống sau chiến tranh, thời kì đổi mới và xã hội hiện đại, mà còn thể hiện những cách nhìn mới mẻ về con người. Nếu văn học giai đoạn trước thường đặt cá nhân trong những vấn đề lớn của lịch sử và cộng đồng, thì văn học đương đại có xu hướng đi sâu hơn vào những vùng khuất của đời sống riêng tư, những tổn thương tinh thần, những bi kịch âm thầm, những nghịch lí đạo đức và những câu hỏi khó trả lời về thân phận con người. Vì vậy, tác phẩm đương đại không chỉ giúp bài viết có nguồn dẫn chứng mới mà còn tạo điều kiện để người học thể hiện khả năng cập nhật, đối thoại và tư duy độc lập.
Một tác phẩm như Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư có thể trở thành dẫn chứng chiến lược cho nhiều vấn đề lý luận khác nhau. Tác phẩm không chỉ kể câu chuyện về một gia đình trôi dạt giữa những cánh đồng miền Tây, mà còn đi sâu vào những tổn thương tinh thần do lòng thù hận, sự cô độc và sự đổ vỡ của tình yêu thương gây nên. Qua hành trình của người cha, Nương, Điền và người đàn bà tên Sương, Nguyễn Ngọc Tư đã chạm tới những miền tối của tâm hồn con người. Khi một tổn thương không được chữa lành có thể sẽ biến thành tổn thương cho người khác, khi con người vừa khao khát yêu thương vừa bất lực trước chính sự cằn cỗi trong tâm hồn mình. Từ tác phẩm này, các em có thể bàn về khả năng khám phá những vùng khuất lấp của đời sống, mối quan hệ giữa hiện thực và cái nhìn nghệ thuật, vai trò của điểm nhìn trần thuật, sức mạnh của giọng điệu, ngôn ngữ giàu tính địa phương và phong cách Nguyễn Ngọc Tư. Điều quan trọng không phải chỉ là nhà văn đã viết về những con người bất hạnh, mà là chị đã phát hiện được cơ chế âm thầm khiến nỗi đau lan truyền từ người này sang người khác, từ quá khứ sang hiện tại, từ một số phận riêng tư thành một câu hỏi lớn về khả năng cứu rỗi của tình thương.
Cũng từ sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư, học sinh có thể nhận ra rằng một nhà văn có phong cách không nhất thiết phải tìm đến những sự kiện phi thường. Nhiều khi, phong cách được hình thành từ chính khả năng lắng nghe những điều bé nhỏ, nhận ra nỗi buồn trong những phận người ít được chú ý và tạo nên một giọng điệu không thể trộn lẫn. Trong các truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư, không gian sông nước, cánh đồng, bến bờ, những cuộc đời trôi dạt và giọng văn buồn mà không bi lụy đã tạo nên một thế giới nghệ thuật riêng. Qua đó, học sinh có thể làm sáng tỏ nhận định rằng phong cách trước hết là cách nhìn, cách cảm, cách lựa chọn và tổ chức chất liệu đời sống của nhà văn.
Khi bàn về bản chất sáng tạo, cá tính nghệ thuật và sự đổi mới của nhà văn, sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp là một nguồn dẫn chứng đặc biệt giàu sức gợi. Trong “Tướng về hưu”, nhà văn không xây dựng hình tượng người lính theo lối sử thi quen thuộc mà đặt một vị tướng trở về giữa đời sống gia đình thời hậu chiến, nơi những chuẩn mực đạo đức, những giá trị tinh thần và những quan hệ thân thuộc đang đứng trước sức ép của đời sống thực dụng. Sự bỡ ngỡ, cô độc và lạc lõng của vị tướng không chỉ là bi kịch của một cá nhân mà còn phản ánh sự va chạm giữa những hệ giá trị khác nhau. Từ đây, học sinh có thể bàn về khả năng phản ánh những nghịch lí xã hội của văn học, sự đổi mới trong quan niệm về con người, vai trò của tình huống, giọng điệu tỉnh táo, lạnh và sắc, cũng như trách nhiệm của nhà văn trong việc phát hiện những vấn đề gai góc của đời sống. Nguyễn Huy Thiệp cho thấy nhà văn đích thực không phải là người lặp lại những cách nhìn đã quen thuộc, mà là người dám nhìn vào những phần phức tạp, không hoàn hảo, thậm chí gây bất an của hiện thực.
“Không có vua” cũng có thể được vận dụng khi bàn về sự tha hóa của đời sống gia đình, sự xâm lấn của đồng tiền và sự đổ vỡ của những nền tảng đạo đức truyền thống. Qua một gia đình tưởng như bình thường, Nguyễn Huy Thiệp đã khơi mở một thế giới mà trong đó những quan hệ huyết thống, tình thân và đạo lí đều bị thử thách bởi lòng tham, dục vọng và lợi ích. Giá trị của tác phẩm không nằm ở việc nhà văn đưa ra những lời phán xét đạo đức trực tiếp, mà ở khả năng tổ chức tình huống, đối thoại, chi tiết và giọng điệu để người đọc tự nhận ra sự biến dạng của con người. Đây là dẫn chứng phù hợp để bàn về tính đa nghĩa của tác phẩm, vai trò của người đọc, khoảng trống nghệ thuật và đặc trưng của văn chương hiện đại: không áp đặt một chân lí đơn nhất mà đặt con người trước những câu hỏi phức tạp.
Bên cạnh đó, “Bến không chồng” của Dương Hướng có thể được sử dụng khi bàn về mối quan hệ giữa lịch sử và số phận cá nhân, đặc biệt là số phận người phụ nữ trong và sau chiến tranh. Tác phẩm không chỉ tái hiện những mất mát hữu hình của làng quê mà còn khắc họa những vết thương âm thầm trong đời sống tình cảm, hôn nhân và khát vọng hạnh phúc của con người. Từ những người đàn bà chờ đợi, hi sinh, cô đơn và lỡ dở, tác phẩm cho thấy lịch sử không chỉ được viết bằng những chiến công mà còn được khắc sâu trong những đời người không thể sống trọn vẹn cho mình. Đây là dẫn chứng có thể làm sáng tỏ khả năng của văn học trong việc nhìn lịch sử từ phía con người, khám phá những số phận bị che khuất sau những diễn ngôn lớn và thực hiện chức năng nhân đạo bằng cách trả lại tiếng nói cho những con người thầm lặng.
Từ những dẫn chứng trên, có thể thấy một tác phẩm đương đại lớn luôn có khả năng soi sáng nhiều vấn đề lý luận. Tuy nhiên, để dẫn chứng thật sự trở thành “chiến lược”, các em không được dừng lại ở việc nhớ tên tác phẩm và nội dung cốt truyện. Với mỗi tác phẩm, cần xây dựng một “hồ sơ” đọc gồm các phương diện:
– Tác phẩm đặt ra vấn đề gì về con người và đời sống.
– Nhà văn có phát hiện gì mới mẻ; tác phẩm được tổ chức bằng hình thức nghệ thuật nào?
– Đâu là những hình tượng, chi tiết, tình huống, điểm nhìn hoặc giọng điệu tiêu biểu
– Tác phẩm có thể chứng minh cho những vấn đề lý luận nào? Nó giống và khác những tác phẩm cùng đề tài ra sao.
Khi trả lời được những câu hỏi ấy, học sinh mới thực sự biến tác phẩm thành một nguồn tư liệu tư duy chứ không chỉ là một dữ kiện để ghi nhớ.
Chẳng hạn, “Cánh đồng bất tận” (Nguyễn Ngọc Tư) có thể được sử dụng khi bàn về chủ nghĩa nhân đạo, phong cách nhà văn, điểm nhìn trần thuật, ngôn ngữ nghệ thuật, khả năng khám phá những vùng khuất của con người hay sức mạnh cứu rỗi của tình thương. “Tướng về hưu” (Nguyễn Huy Thiệp) có thể làm sáng tỏ cá tính sáng tạo, sự đổi mới quan niệm về con người, khả năng phát hiện nghịch lí đời sống và giọng điệu nghệ thuật. “Bến không chồng” (Dương Hướng) có thể được vận dụng khi bàn về số phận cá nhân trong dòng chảy lịch sử, tiếng nói nhân đạo và khả năng của văn học trong việc trả lại giá trị cho những con người bị lãng quên. Một tác phẩm càng được đọc sâu thì khả năng vận dụng càng rộng; một chi tiết càng được hiểu đúng thì sức mạnh khái quát càng lớn.
Dẫu vậy, không phải dẫn chứng đương đại nào cũng có thể sử dụng trong mọi bài viết. Người học phải biết lựa chọn tác phẩm phù hợp với từng luận điểm. Nếu bàn về phong cách ngôn ngữ và giọng điệu, Nguyễn Ngọc Tư là một lựa chọn giàu khả năng phân tích. Nếu bàn về sự đổi mới trong cách nhìn con người và hiện thực, Nguyễn Huy Thiệp đem lại nhiều chiều sâu tranh luận. Dẫn chứng chỉ thực sự có giá trị khi người viết xác định rõ: đưa tác phẩm vào để chứng minh điều gì, lựa chọn phương diện nào để phân tích và sau khi phân tích sẽ rút ra kết luận lý luận gì. Cần tránh lối viết thấy tác phẩm mới lạ là đưa vào, bởi khi ấy bài văn rất dễ trở thành nơi phô diễn vốn đọc hơn là một chỉnh thể lập luận chặt chẽ.
Đích đến của việc xây dựng kho dẫn chứng chiến lược là hình thành ở học sinh một năng lực hai chiều: đứng trước một vấn đề lý luận có thể nhanh chóng huy động những tác phẩm phù hợp; đứng trước một tác phẩm có thể nhận ra những vấn đề lý luận rộng lớn ẩn sau hình tượng, chi tiết và hình thức nghệ thuật. Khi ấy, Cánh đồng bất tận không chỉ còn là câu chuyện về một gia đình trôi dạt; Tướng về hưu không chỉ là bi kịch của một vị tướng trở lại đời thường. Mỗi tác phẩm trở thành một cách nhà văn đặt câu hỏi về con người, lịch sử, đạo đức, tình yêu, nỗi đau và khả năng sống của con người trong một thế giới nhiều biến động.
Bởi xét đến cùng, học sinh giỏi không phải là người mang trong trí nhớ một thư viện thật lớn nhưng đóng kín. Người học giỏi phải biết mở đúng cuốn sách vào đúng thời điểm, lựa chọn đúng hình tượng cho đúng luận điểm, tìm đúng chi tiết để soi sáng đúng vấn đề. Dẫn chứng chỉ thật sự có giá trị khi nó không dừng lại ở việc chứng minh người viết đã đọc nhiều, mà khiến người chấm nhận ra rằng người viết đã đọc sâu, nghĩ sâu và có khả năng từ những thân phận riêng tư, những câu chuyện đương đại vươn tới những quy luật bền vững của văn chương và con người.



















