SO SÁNH 2 ĐOẠN THƠ/BÀI THƠ
Đề 1. Đọc 2 văn bản (đoạn văn bản) sau:
(1)
Anh không xứng là biển xanh
Nhưng anh muốn em là bờ cát trắng
Bờ cát dài phẳng lặng
Soi ánh nắng pha lê…
Bờ đẹp đẽ cát vàng
Thoai thoải hàng thông đứng
Như lặng lẽ mơ màng
Suốt ngàn năm bên sóng…
Anh xin làm sóng biếc
Hôn mãi cát vàng em
Hôn thật khẽ, thật êm
Hôn êm đềm mãi mãi.
Đã hôn rồi, hôn lại
Cho đến mãi muôn đời
Đến tan cả đất trời
Anh mới thôi dào dạt…
(Trích “Biển” – Xuân Diệu, 4-4-1962)
(2) Những đêm trăng hiền từ
Biển như cô gái nhỏ
Thầm thì gửi tâm tư
Quanh mạn thuyền sóng vỗ
Cũng có khi vô cớ
Biển ào ạt xô thuyền
(Vì tình yêu muôn thuở
Có bao giờ đứng yên?)
Chỉ có thuyền mới hiểu
Biển mênh mông nhường nào
Chỉ có biển mới biết
Thuyền đi đâu, về đâu
Những ngày không gặp nhau
Biển bạc đầu thương nhớ
Những ngày không gặp nhau
Lòng thuyền đau – rạn vỡ
Nếu từ giã thuyền rồi
Biển chỉ còn sóng gió
Nếu phải cách xa anh
Em chỉ còn bão tố
(Trích “Thuyền và biển” – Xuân Quỳnh, 4-1963)
Anh/chị hãy viết bài văn so sánh những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của hai đoạn trích trên.
BÀI THAM KHẢO
Trong dòng chảy thơ ca Việt Nam hiện đại, tình yêu luôn là mạch nguồn cảm xúc bất tận, nơi mỗi thi sĩ gửi gắm một cách cảm, cách nghĩ riêng về đời sống con người. Đến với hai đoạn thơ trong “Biển” của Xuân Diệu và “Thuyền và biển” của Xuân Quỳnh, ta bắt gặp hai cách thể hiện tình yêu vừa gặp gỡ vừa khác biệt: cùng mượn hình tượng biển – sóng – thuyền để nói hộ trái tim, nhưng mỗi người lại khắc họa một sắc thái riêng về nội dung và nghệ thuật.
Xuân Diệu được bạn trẻ tấn phong là “ông hoàng thơ tình” còn Xuân Quỳnh lại được xưng tụng là “nữ hoàng của thơ ca tình yêu”. Đây là hai gương mặt tiêu biểu của thi ca Việt Nam hiện đại. Nếu Xuân Diệu say đắm, cuồng nhiệt trong tình yêu, thì Xuân Quỳnh lại dịu dàng, sâu lắng, giàu chất nữ tính. Hai thi phẩm Biển và Thuyền và biển là minh chứng tiêu biểu cho phong cách và hồn thơ riêng biệt của mỗi người.
Trước hết, ở phương diện nội dung, cả hai đoạn thơ đều gặp nhau ở việc diễn tả một tình yêu mãnh liệt, sâu sắc và giàu khát vọng gắn bó. Biển trong thơ Xuân Diệu hay Xuân Quỳnh không còn là cảnh vật vô tri mà trở thành hóa thân của cảm xúc con người. Đó là tình yêu luôn hướng tới sự hòa hợp, luôn thao thức bởi nỗi nhớ và khát khao vĩnh cửu. Nếu “anh xin làm sóng biếc / hôn mãi cát vàng em” thì ở Xuân Quỳnh, “những ngày không gặp nhau / biển bạc đầu thương nhớ”. Thiên nhiên đã trở thành ngôn ngữ thứ hai của trái tim, nơi tình yêu hiện lên như một quy luật tự nhiên: càng sâu đậm càng không thể đứng yên.
Không chỉ gặp gỡ ở nội dung, hai đoạn thơ còn có nhiều điểm tương đồng về nghệ thuật. Cả hai đều sử dụng thành công các biện pháp tu từ như ẩn dụ, nhân hóa để biến hình tượng thiên nhiên thành biểu tượng của tình yêu. Ngôn ngữ thơ giàu cảm xúc, giàu nhạc tính; giọng điệu trữ tình tha thiết; hình ảnh mang tính gợi cảm, giàu sức liên tưởng. Chính sự hòa quyện giữa cảm xúc và nghệ thuật ấy đã góp phần tạo nên sức lay động sâu xa trong lòng người đọc.
Tuy nhiên, đi sâu vào từng đoạn thơ, ta nhận ra những khác biệt rõ nét. Với Xuân Diệu, tình yêu mang sắc thái sôi nổi, cuồng nhiệt và giàu tính bản năng. Cái tôi trong bài thơ luôn chủ động, luôn khát khao dâng hiến và tận hưởng đến tận cùng: “hôn mãi”, “hôn lại”, “đến tan cả đất trời”. Những động từ mạnh, dồn dập đã tạo nên nhịp điệu gấp gáp, như chính nhịp đập trái tim yêu đương nồng cháy. Tình yêu ở đây là sự bùng nổ cảm xúc, là khát vọng chiếm hữu và hòa nhập tuyệt đối. Nó mang đậm phong cách của “ông hoàng thơ tình”, nơi cái tôi cá nhân được giải phóng đến cực điểm.
Ngược lại, tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh lại hiện lên với vẻ đẹp nữ tính, sâu lắng và nhiều suy tư. Không chỉ là khát khao gắn bó, tình yêu còn gắn liền với nỗi lo âu, sự bất an và khát vọng thấu hiểu. Hình tượng “thuyền – biển” không chỉ là ẩn dụ cho đôi lứa mà còn là biểu tượng của mối quan hệ hai chiều, nơi mỗi bên đều cần đến nhau: “Chỉ có thuyền mới hiểu / Biển mênh mông nhường nào”. Đặc biệt, nỗi nhớ trong thơ Xuân Quỳnh mang sắc thái day dứt, kéo dài: “Biển bạc đầu thương nhớ”, “Lòng thuyền đau rạn vỡ”. Nếu Xuân Diệu thiên về tận hưởng hiện tại thì Xuân Quỳnh lại nghiêng về chiều sâu nội tâm, về những rung động tinh tế và bền bỉ của trái tim người phụ nữ đang yêu.
Sự khác biệt ấy còn thể hiện rõ ở phương diện nghệ thuật. Thơ Xuân Diệu sử dụng thể tự do với nhịp điệu nhanh, dồn dập; ngôn ngữ táo bạo, giàu tính gợi cảm; hình ảnh mang tính nhục cảm rõ nét như “hôn”, “dào dạt”. Giọng điệu thơ sôi nổi, mãnh liệt, thể hiện một cái tôi yêu đương đầy bản năng và say đắm. Trong khi đó, thơ Xuân Quỳnh lại có nhịp điệu mềm mại, linh hoạt, gần với lời tâm tình; ngôn ngữ giản dị mà giàu sức gợi; hình ảnh mang tính biểu tượng sâu sắc. Giọng điệu thơ khi tha thiết, khi trầm lắng, phản ánh một tâm hồn phụ nữ giàu cảm xúc nhưng cũng nhiều trăn trở.
Lý giải cho sự khác biệt này, trước hết phải xuất phát từ phong cách cá nhân và trải nghiệm sống của mỗi nhà thơ. Xuân Diệu với cái tôi cá nhân mạnh mẽ, luôn khao khát tận hưởng và chiếm lĩnh cuộc sống, nên tình yêu trong thơ ông cũng mang sắc thái cuồng nhiệt, vội vàng. Trong khi đó, Xuân Quỳnh – một hồn thơ nữ giàu trải nghiệm, lại nhìn tình yêu trong mối quan hệ của sự gắn bó, thấu hiểu và cả những lo âu rất đời thường. Gs. Trần Đình Sử từng nhận định: “Thơ là tiếng nói của cái tôi trữ tình trong những hoàn cảnh cụ thể của đời sống”. Bởi vậy mỗi tiếng nói tình yêu đều in đậm dấu ấn cá nhân của người viết. Đồng thời, Gs. Nguyễn Đăng Mạnh cũng khẳng định: “Phong cách là cái riêng ổn định của nhà văn”, điều này càng làm rõ vì sao cùng một đề tài nhưng mỗi thi sĩ lại có cách thể hiện không trộn lẫn.
Từ đó, có thể thấy hai đoạn thơ không chỉ là hai bức tranh tình yêu mà còn là hai sắc điệu tâm hồn: một bên sôi nổi, cháy bỏng; một bên dịu dàng, sâu lắng. Cả hai đã góp phần làm phong phú diện mạo thơ tình Việt Nam hiện đại, khẳng định tài năng và dấu ấn riêng của mỗi nhà thơ. Tình yêu, qua những vần thơ ấy, không chỉ là câu chuyện của hai con người mà còn là tiếng nói muôn thuở của trái tim nhân loại – luôn khao khát yêu và được yêu, luôn tìm kiếm sự hòa hợp giữa những tâm hồn.
Ths. Phan Danh Hiếu



















