Cái tôi của Hoàng Phủ Ngọc Tường trong bút ký Ai đã đặt tên cho dòng sông

0
1680
logo A

Đề: Cảm nhận về cái “tôi” của Hoàng Phủ Ngọc Tường qua đoạn trích “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”

BÀI LÀM

          Một chiều thu xưa cũ, tôi ngồi nghe lại khúc “Diễm xưa” của Trịnh Công Sơn: “Xin hãy cho mưa qua miền đất rộng / Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau”. Đã mấy thập kỉ trôi qua, mà nhạc Trịnh vẫn khiến người ta si mê nhiều đến thế. Vậy điều gì đã thực sự làm nên giá trị của một tác phẩm nghệ thuật? Tôi thiết nghĩ đó là trái tim, là tài năng và là cái “tôi” của một người nghệ sĩ. Không có Trịnh, sẽ chẳng có một “Diễm xưa”, sẽ chẳng có những lời ca gieo vào lòng người biết bao nhiêu là thổn thức. Trịnh, hay chính tài năng của Trịnh, cái “tôi” của Trịnh đã tạo nên thứ nghệ thuật thoát li ra khỏi mọi định luật băng hoại của thời gian ấy. Chẳng riêng gì âm nhạc, câu chuyện sáng tạo nghệ thuật là câu chuyện của muôn đời, muôn thời, muôn người nghệ sĩ. Phải lăn lộn với nghề nhiều năm, phải thực sự gắn bó với kiếp sống của đời nghệ sĩ “uống mặn nồng nhưng chỉ thấy chua cay”, phải đau đớn thay cho những thân kiếp sống trên đời, phải thương yêu vạn vật tất thảy, phải xót xa cho những gì đã mất, và hoài tiếc cho những thời đã qua, người nghệ sĩ mới có đủ trải nghiệm, đủ dạn dĩ để chắp nên những áng văn chương bất hủ. Đi nhiều, nghĩ nhiều, ngẫm nhiều, sống nhiều, người nghệ sĩ mới có thể phát kiến ra và đưa vào trong những trang sách cái “tôi” của riêng mình. Và Hoàng Phủ Ngọc Tường với tuyệt bút “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” đã tỏ rõ cho hậu thế hôm nay và mai sau cái “tôi” của một đời văn nhân trào dâng nới đầu ngọn bút.

         Sáng tạo nghệ thuật là biểu hiện rực rỡ của các phạm trù: cái chủ quan, cái cá biệt, cái đặc thù, cái không lặp lại trong tài năng của nghệ sĩ. Cá tính sáng tạo biểu hiện ở cái nhìn nghệ thuật độc đáo, ở cách cảm nghĩ của nhà văn có khả năng đề xuất những nguyên tắc, biện pháp nghệ thuật mới mẻ, tạo thành một ngôn ngữ nghệ thuật mới trong việc biểu hiện những nội dung mới của đời sống và tư tưởng. Nếu cá tính sáng tạo của nhà văn mờ nhạt, không tạo ra được một tiếng nói riêng, một giọng điệu riêng thì đó chính là sự tự sát trong văn học. Bởi lẽ “tự tử đói với người nghệ sĩ không phải phát súng hay dây thừng mà là khi ngồi vào bàn viết anh ta không viết được điều gì mới mẻ”. Vậy nên các nhà văn, nhà thơ đều ý thức được việc “làm người thì không nên có cái tôi nhưng làm thơ thì không thể không có cái tôi”. Cái “tôi” được hiểu là nét riêng, điểm khác biệt của mỗi cá nhân. Trong lĩnh vực nghệ thuật, cái “tôi” không chỉ thể hiện con người mà còn thể hiện phong cách nghệ thuật của tác giả. Chính nhờ cái tôi đó mà người nghệ sĩ kia mới có thể tạo ra cho mình một dấu triện riêng trên bến văn đàn, để mỗi tác phẩm nghệ thuật của mình mang hình hài một chiếc lá, thả mình vào dòng chảy niên viễn của thời gian.

         “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” là một trong những thiên tùy bút của Hoàng Phủ Ngọc Tường nói riêng và của thể loại bút kí, tùy bút trong nền văn học nước ta nói chung. Chẳng phải ngẫu nhiên mà Tô Hoài nhận xét: “Hoàng Phủ Ngọc Tường trầm cả tâm hồn trong khuôn mặt cuộc đời cùng với đất trời, sông nước của Huế”. Ông đã lắng nghe rất kĩ, ghi tạc rất sâu những khoảnh khắc tưởng đâu chừng đã quá đỗi dung dị , quá đỗi đời thường của dòng Hương giang ấy, để khi những dệt rung cảm tế vi, mến thương ấy ngập tràn trong đôi mắt; tâm thức ông, ngòi bút ông sẽ viết, thật đẹp và thật hay. Tài liệu của trang thayhieu.net. Ông viết về sông Hương như viết đôi ba dòng thư tình dành tặng người con gái mình yêu, ban sơ và bình dị. Và chắc cũng vì cái lẽ đó mà thứ còn lại sau một lời “phu chữ” của ông chính là những áng văn chương về sông Hương được chắp nên từ cái “tôi” tài hoa, uyên bác và nặng lòng với quê hương xứ sở.

         Tuy nói “Ai đã đặt tên cho dong sông?” có phần nhiều nghiêng về tùy bút, tức là thiên về chất trữ tình và sự phóng khoáng nhưng cái hồn cốt của nó không vì thế mà mất đi. Bản chất của kí là ghi chép và người viết chính là “thư kí trung thành của thời đại”. Hoàng Phủ Ngọc Tường là một người thư kí như thế và thậm chí  là một “thư kí” xuất sắc của dòng Hương giang. Ông am tường về sông Hương trên mọi bình diện lịch sử, văn hóa, địa lí. Ở góc độ địa lí, Hoàng Phủ Ngọc Tường tìm hiểu sông Hương trực tiếp ở thượng nguồn để phát hiện nhiều vẻ đẹp khác nhau của dòng sông. Đây là dòng sông có mối quan hệ mật thiết với dãy Trường Sơn. Có lẽ vì thế mà nó mang trong mình dáng dấp của một bản trường ca rừng già với tiết tấu hùng tráng, dữ dội. Với dòng Hương giang, ông không chỉ thân thuộc từng cái “chuyển dòng”, từng khúc “uốn mình” “vòng giữa”, từng đường  cong, từng ngã rẽ; không chỉ nắm bắt từng chỗ cuộn xoáy, từng chỗ yên ả, phẳng lặng… của con sông trong từng không gian địa lí mà còn là cả một chiều dài “bốn nghìn năm đất nước”, từ thuở “nó còn là một dòng biên thùy xa xôi của đất nước các vua Hùng”. Trong cái nhìn về địa ví và lịch sử, ông không chỉ am tường về những kiến thức đã có trong các tư liệu mà còn là cả những kiến thức không mấy người biết đến và nghĩ đến, ông cũng đều thấu tỏ tận tường. Ấy là vai trò của dòng sông – “người mẹ phù sa của vùng văn hóa xứ sở”. Bấy lâu nay khi viết về sông Hương, bất kì người nghệ sĩ nào cũng đắm chìm trong vẻ đẹp “phóng khoáng và man dại” của “cô gái Di-gan” sắc nước nghiêng thành. Hoàng Phủ Ngọc Tường, con người dành trọn một hành trình sống của mình để yêu và thương sông Hương, đã thoát ra khỏi kiểu đồng phục tư tưởng để chạm khắc nên dòng sông trên con đường độc đạo của riêng mình. Dưới ngòi bút của ông, Hương giang mang trong mình vẻ đẹp dịu dàng, toàn bích và đầy trí tuệ, nuôi dưỡng những đứa con xứ Huế, bồi đắp nên nền văn hóa hai bên bờ sông cho cố đô bằng dòng phù sa ngọt ngào, ấm nóng. Đã mấy mươi thế kỉ trôi qua, trải qua bao bể dâu của cuộc đời, bao hưng phế của thời đại, sông Hương vẫn thế, vẫn lặng lẽ, vẫn âm thầm cống hiến, bồi đắp phù sa để hình thành nên nền văn hóa rực rỡ, giống như một người mẹ hiền lúc nào cũng thầm lặng hi sinh, chịu đựng, tất cả vì những đứa con thương yêu, chẳng mưu cầu đáp trả, chỉ mong sao “mai này con ta lớn lên/ con sẽ mang đất nước đi xa/ đến những tháng ngày mơ mộng”.

         Nhưng thú vị nhất vẫn là những khám phá, phát hiện và miêu tả của nhà văn về sông Hương dưới góc độ văn hóa. Dấu tích văn hóa ở cả trên và hai bên bờ sông. Đó là “vẻ đẹp trầm mặc như triết lí, như cổ thi” của “người con gái dịu dàng của đất nước” khi chảy qua lăng tẩm của những vua chúa triều Nguyễn; là cái nôi của nền âm nhạc cố đô.  Đó còn là dòng sông thi ca – nơi đã khơi nguồn cảm hứng cho biết bao thế hệ văn nghệ sĩ nói chung và các nhà thơ nói riêng. Như Cao Bá Quát đã từng nhìn sông Hương mà thốt lên rằng: “Trường Giang như kiếm lập thanh thiên”. Như Hàn Mặc Tử đứng trước dòng sông mà trắc ẩn, bồi hồi: “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó / Có chở trăng về kịp tối nay”. Tài liệu của trang thayhieu.net. Như Thu Bồn đã từng nhìn điệu chảy lững lờ của Hương giang mà băn khoăn “Con sông dùng dằng, con sông không chảy/ Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu”. Hay như một con sông Hương cứ mãi quan hoài trong nỗi sầu vạn cổ của Bà Huyện Thanh Quan, có sức mạnh phục sinh tâm hồn trong thơ của Tố Hữu. Quả không ngoa khi nói sông Hương là mảnh đất hiện thực màu mỡ, luôn nghiêng mình hiến dâng thứ mực trân quý nhất, để mỗi nhà văn khi đến nơi đây đều có thể chấm bút vào nghiên mà chưng cất nên “những trang sách suốt đời đi vẫn nhớ/ như đám mây ngũ sắc ngủ trên đầu”.

         Có thể nói bằng những hiểu biết phong phú, nhà văn đã cung cấp cho người đọc một lượng thông tin lớn về địa lí, lịch sử, văn hóa Huế nói chung và sông Hương nói riêng. Vốn kiến thức sâu rộng đó hẳn phải là kết quả của nhiều chuyến du lãm và du khảo trên dặm dài mảnh đất cố đô. Nhưng cái chính vẫn là những trang văn về Hương giang đã đuộc tưới tắm trong vô vàn những cung bậc cảm xúc của tác giả, đã thăng hoa trong cảm giác mê đắm của một đời văn nhân.

         Cái “tôi” của tác giả còn là một cái “tôi nặng lòng với quê hương, xứ sở. Chắc rằng Hoàng Phủ Ngọc Tường phải yêu, phải thương cái mảnh đất này lắm mới có thể lột tả dòng sông quê hương một cách xuất sắc đến vậy. Ông đã dành toàn bộ tâm huyết của mình để theo dõi toàn bộ thủy trình với vốn hiểu biết sâu rộng về các kiến thức liên quan. Chính vì thế, những áng văn của ông luôn là những gì trong veo, ban sơ nhất của dòng sông Hương tự buổi hồng hoang. Và vì thứ tình cảm nồng đượm đối với những điều dung dị, đời thường nhất của dòng sông Hương như thế nên con chữ ông chính là thứ còn lại của một thời đại, một đời văn nhân yêu mến những điều nhỏ bé, những vẻ đẹp mong manh cơ hồ tựa mảnh trời xanh như muốn vỡ ra dưới hiên nhà một chiều nắng nhạt. Chính con sông đã khiến trái tim ấy, tâm hồn ấy, con người ấy phải ngân rung lên những nhịp yêu thương với nhiều cung bậc khác nhau: khi thì băn khoăn, trăn trở, e ngại con người; khi lại khắc khoải đến nao lòng một nét sông Hương với điệu chảy lững lờ mà ông gọi là “điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế; có khi “thất vọng khi nghe nhạc Huế giữa ban ngày” bởi  “toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế đã được sinh thành trên mặt nước của dòng sông này”… Những cảm xúc ấy chỉ là một trong số rất nhiều những biểu hiện của tình cảm gắn bó yêu thương đối với sông Hương mà nhà văn đã trực tiếp nói ra và kín đáo thể hiện. Tình cảm đối với sông Hương của Hoàng Phủ Ngọc Tường, xét cho đến cùng, là tình cảm đối với đất nước, là tấm lòng yêu mến quê hương xứ sở đến độ nồng cháy của nhà văn. Tài liệu của trang thayhieu.net. Tôi tự hỏi nếu không phải xuất phát từ cái tình chân thành, nồng cháy đó thì làm sao ông có thể viết, làm sao con chữ của ông có thể chạm được đến những khoái cảm thẩm mĩ của biết bao thế hệ? Con chữ dưới ngòi bút ông được ướp đắp trong men say của cái tình thuần khiết ấy, của cái tình chân thành và dung dị nhất, dễ gây thương nhớ nhất. Và vì thế, văn của con người ấy bao giờ cũng ẩn mình dưới lớp ngôn từ dịu nhẹ, một vùng ánh sáng lấp lánh mà chỉ ai trân quý cái đẹp, trân quý dòng Hương giang và trân quý quê hương, xứ sở mới có thể tỏ tường.

         Và cái “tôi” tinh tế, lãng mạn với trí tưởng tượng phong phú, bay bổng chính là điều cuối cùng giúp Hoàng Phủ Ngọc Tường đặt dấu triện của mình vào văn đàn Việt Nam hiện đại. Nghệ thuật chính là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Hiện thực cuộc sống chính là kho đề tài vô tận để người nghệ sĩ khám phá, phát hiện. Nhưng đối với mỗi cây bút, nó lại được chiếu rọi dưới một thứ ánh sáng riêng. Nghệ sĩ chân chính là người biết khai thác những ấn tượng riêng, chủ quan của mình và biết làm cho ấn tượng ấy có hình thức riêng biệt, độc đáo. Ý thức được sự lặp lại tẻ nhạt chính là cái chết của nghệ thuật, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã tìm cho mình “một giọng nói riêng không thể tìm thấy ở bất kì cuống họng nào khác”. Ông viết về sông Hương như viết về một người tình với mối lương duyên tự ngàn xưa. Sông Hương dưới ngòi bút của ông hiện lên với những nét tính cách độc đáo và vẻ đẹp phong phú. Khi sống giữa lòng Trường Sơn, sông Hương mang trong mình dòng máu của một “cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại”. Nhưng khi vừa đặt chân ra khỏi cánh rừng đại ngàn, nó chuyển mình, mang nét đẹp dịu dàng, đắm say để bắt đầu một cuộc tìm kiếm có ý thức, tìm kiếm người tình trong mộng. Tài liệu của trang thayhieu.net. Thế nên đoạn chảy này được tác giả so sánh như một cuộc tìm kiếm và đuổi bắt, đầy hào hoa và đam mê. Nét dịu dàng, đắm say ấy thoáng chốc tan biến để nhường chỗ cho cái vẻ “trầm mặc”, “cổ thi” khi “người con gái ấy” uốn mình qua những lăng tẩm, tạo cảm giác như dòng sông Hương đang chiêm nghiệm, đang thành kính nghĩ suy về một thời quá khứ vàng son dựng nước và giữ nước. Nhưng cũng rất nhanh thôi, sông Hương lại tìm về với cái sức sống vốn có của nó, bừng sáng và trẻ trung khi nghe thấy âm thanh của thành phố; e ấp và thẹn thùng khi nằm trong vòng tay của kinh thành Huế như người con gái cuộn mình trong cái ôm của tình nhân. Rồi khi rời khỏi kinh thành Huế, sông Hương lại tìm về với vẻ đẹp mơ màng, hư ảo khi đi qua những nương dâu, lũy trúc và những hàng cau thôn Vĩ Dạ. Và khi nó “đột ngột chuyển dòng như sực nhớ ra một điều gì chưa kịp nói”, tác giả lại gọi đấy là nỗi vương vấn, cả một chút lẳng lơ kín đáo trong tình yêu. Đặc biệt hơn cả, trong suốt hải trình của mình, sông Hương luôn được hình dung như một “người gái đẹp” với nhiều dáng vẻ, nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau. Sáng tạo nghệ thuật chính xác là một hình thức “tự rủ mình vào cửa khó” nhưng nhà văn của chúng ta đã không ngần ngại mà “vật lộn với con chữ của đời” để viết nên những áng văn chương “không trộn lẫn”. Thử hỏi có được mấy ai dám cầm bút mà đặt vào so sánh giữa cái cụ thể là dòng sông Hương và cái trừu tượng là vẻ đẹp “như triết lí, như cổ thi”? Thử hỏi có được mấy ai nghĩ đến dòng sông Hương như một “cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại”? Thử hỏi có được mấy ai dám đặt dòng sông xứ sở mình lên bàn cân so sánh với con sông Nê-va trứ danh thế giới? Không, không ai làm được điều đó, ngoại trừ ông, Hoàng Phủ Ngọc Tường cùng cái “tôi” tinh tế và lãng mạn mới đủ dạn dĩ mà chắp bút viết nên một thiên tùy bút lặng đọng trong lòng người đọc bao thế hệ.

         Với Hoàng Phủ Ngọc Tường, sông Hương dương như đã hóa thành máu thịt ông, tâm hồn ông, thể xác ông. Bởi thế dù trong những trang văn, dấu chân lữ hành của ông đã lang thang qua sông Seine của Pháp hay dòng Volga nước Nga; đi suốt những dòng sông Việt từ sông Hồng, sông Đuống, sông Lô đến dòng Hiền Lương, Thạch Hãn quê nhà hay yêu đến tận tụy dòng Thu Bồn xứ Quảng, sông Cồn đất võ, những dòng sông phương Nam đỏ nặng phù sa… thì cuối cùng, còn lại với Hoàng Phủ Ngọc Tường vẫn là những nhịp yêu thương dành dụm, góp nhặt dành cho sông Hương trào dâng qua đầu ngọn bút. Và vì thứ văn chương của ông bước ra từ chính những tình cảm ấp iu, nồng đượm đó nên cái “tôi” của ông trên từng con chữ không hề khiên cưỡng mà lạ thay lại rất tự nhiên, ban sơ đến nghẹn ngào. Cái “tôi” của Hoàng Phủ Ngọc Tường là sự hội tụ cái tài, cái tâm của một đời cầm bút. Đó là cái “tôi” nặng lòng với sông Hương, với xứ Huế, với quê hương đất nước mình. Đó cung là cái “tôi” uyên bác, tài hoa trong nghệ thuật thể hiện của thể bút kí.

         Bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” đã làm rõ cái “tôi” của Hoàng Phủ Ngọc Tường và như một lời khẳng định tên ông trên bến văn đàn. Bởi lẽ làm một nhà văn không phải chuyện dễ dàng vì ở họ không chỉ hội tụ về nhân cách bản chất thẩm mĩ cuộc sống, của con người mà họ còn phải nắm bắt được trọn vẹn những phong phú, đa dạng và chuyển biến trong từng khoảnh khắc. Và vì thế cho nên họ luôn phải sống sâu để cảm nhận được hết những “phong phú và đa dạng ấy”. Bên cạnh đó, họ còn phải là một “con người lớn” và rành rọt mọi chuyện “bếp núc” của văn chương: Đó chính là cái “tôi” lớn của một đời lăn lộn với chữ nghĩa – bởi vì nó cũng chính là một trong những nhân tố quyết định cho “hơi thở”, cho sức sống của một tác phẩm vĩ đại, một nhà văn vĩ đại!

                                  Nguyễn Lê Khánh Huyền

                                  THPT Trấn Biên (năm học 2020 – 2021)

logo A