So sánh hai bài thơ “Chân quê” và “Lời thề cỏ may”

0
25

SO SÁNH HAI BÀI THƠ
Về hai bài thơ “Chân quê” (Nguyễn Bính) và “Lời thề cỏ may” (Phạm Công Trứ)

Thơ ca, suy cho cùng, là hành trình người nghệ sĩ đi tìm một tiếng nói chỉ thuộc về mình giữa muôn vàn thanh âm của nghệ thuật. Nguyễn Linh Khiếu từng viết: “mỗi nhà thơ chỉ khai phá duy nhất một con đường / con đường chưa bao giờ có”; còn Lê Đạt gọi dấu ấn riêng ấy bằng một hình ảnh đầy ám gợi: “Mỗi người nghệ sĩ thứ thiệt / đều có một dạng vân chữ / Không trộn lẫn”. Bởi thế, trong khu vườn thi ca, mỗi bài thơ là một đóa hoa mang sắc màu và hương thơm riêng; có thể gặp gỡ nhau ở những rung động lớn của tâm hồn nhưng không bao giờ hòa tan vào nhau. Đến với “Chân quê”của Nguyễn Bính và “Lời thề cỏ may” của Phạm Công Trứ, người đọc vừa bắt gặp những miền cảm xúc đồng điệu, vừa nhận ra những “vân chữ” riêng làm nên vẻ đẹp của mỗi hồn thơ.

Trước hết, hai thi phẩm gặp nhau ở những mạch nguồn cảm xúc gần gũi. Cả hai đều đặt câu chuyện tình yêu trong không gian làng quê Việt Nam thân thuộc. Ở “Chân quê” là “con đê đầu làng”, “vườn chanh”, “hương đồng gió nội”; ở “Lời thề cỏ may” là tuổi thơ “chân đất đầu trần”, là cỏ may, bờ đê, trăng vàng. Làng quê vì thế không chỉ là phông nền của tình yêu mà còn là miền kí ức nâng đỡ tâm hồn con người. Đặc biệt, cả hai nhà thơ đều lựa chọn một tình huống gần như tương ứng: người con gái từ quê bước ra tỉnh rồi trở về với những đổi thay. Cô gái của Nguyễn Bính khoác lên mình “khăn nhung, quần lĩnh”, “áo cài khuy bấm”; cô gái của Phạm Công Trứ cũng trở về với “áo chẽn”, “quần bò”. “Tỉnh” và “quê” từ những địa danh đời thường bỗng trở thành hai miền biểu tượng: một bên là cái mới mẻ của đời sống thị thành, một bên là những giá trị nguyên sơ, thân thuộc của quá khứ.

Bởi thế, phía sau sự đổi thay của “em” trong cả hai thi phẩm đều là nỗi hụt hẫng của “tôi”. Nguyễn Bính thốt lên đầy xót xa: “Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi!”, rồi gần như van nài: “Van em! Em hãy giữ nguyên quê mùa”. Phạm Công Trứ lại đau trước một thái độ tưởng rất nhẹ mà hóa ra rất lạnh: “Gặp tôi, em hỏi hững hờ”. Một người đau vì dáng vẻ chân quê đang phôi pha, một người đau vì tình xưa đã khác; nhưng sâu xa đều là nỗi buồn của con người khi nhận ra cái đẹp mình từng nâng niu đang rời khỏi tầm tay. Vì thế, cả hai bài thơ đều vượt khỏi giới hạn của một câu chuyện tình. “Chân quê” tiếc nuối một bản sắc văn hóa đang phai nhạt; “Lời thề cỏ may” tiếc nuối miền tình cảm trong trẻo của tuổi thơ đã bị thời gian cuốn đi. Có lẽ thơ bắt đầu từ những điều rất riêng như thế, nhưng chỉ thực sự sống lâu khi nỗi riêng ấy chạm được vào một miền phổ quát của lòng người.

Thơ không chỉ sống bằng chiều sâu của tư tưởng, cảm xúc mà còn tỏa sáng bởi vẻ đẹp của hình thức nghệ thuật. Từ phương diện ấy, “Chân quê” và “Lời thề cỏ may” cũng tìm thấy ở nhau nhiều điểm cộng hưởng. Trước hết, cả hai đều lựa chọn thể thơ lục bát – nhịp điệu đã thấm sâu vào lời ru, câu hát và tâm thức dân tộc. Ngôn ngữ thơ mộc mạc, tự nhiên, đậm hơi thở thôn quê: Nguyễn Bính có “yếm lụa sồi”, “dây lưng đũi”, “áo tứ thân”, “khăn mỏ quạ”; Phạm Công Trứ có “cỏ may”, “chân đất đầu trần”, “bờ đê”. Những chất liệu tưởng rất đời thường khi bước vào thơ bỗng mang linh hồn và kí ức. Đồng thời, cả hai bài đều kết hợp nhuần nhuyễn tự sự với trữ tình: có nhân vật, có câu chuyện, có sự biến đổi của thời gian, nhưng tất cả cuối cùng đều quy tụ về một chữ “tình”. Chính sự hòa quyện ấy khiến câu chuyện riêng của nhà thơ trở thành câu chuyện mà nhiều người có thể bắt gặp bóng dáng mình trong đó.

Tuy gặp nhau ở một miền cảm hứng, hai thi phẩm vẫn tỏa ra những hương sắc riêng. Nếu “Lời thề cỏ may” chủ yếu day dứt trước sự đổi thay của tình yêu thì “Chân quê” lại gửi vào chuyện tình một nỗi niềm sâu xa hơn về bản sắc văn hóa. Nguyễn Bính cố ý dựng lên hai hệ thống trang phục đối lập: “khăn nhung, quần lĩnh”, “áo cài khuy bấm” của thị thành đối diện với “yếm lụa sồi”, “dây lưng đũi”, “áo tứ thân”, “khăn mỏ quạ” của làng quê. Chàng trai dường như không chỉ sợ mất người yêu mà còn sợ mất cả “hồn quê” trong người mình yêu. Bởi vậy, câu thơ “Van em! Em hãy giữ nguyên quê mùa” nghe vừa như lời yêu, vừa như một lời níu giữ. Nguyễn Bính từng được Hoài Thanh – Hoài Chân nhận xét trong “Thi nhân Việt Nam” là người đã “đánh thức người nhà quê vẫn ẩn náu trong lòng ta”. Quả thực, đến “Chân quê”, cái “nhà quê” ấy không phải điều đáng chối bỏ mà trở thành một giá trị thẩm mĩ đáng nâng niu.

Đặc biệt, vẻ đẹp riêng của Nguyễn Bính kết tinh trong những hình ảnh tưởng giản dị mà giàu sức biểu tượng: “Hoa chanh nở giữa vườn chanh”. Hoa chanh đẹp nhất khi được nở giữa chính khu vườn thuộc về nó; con người dường như cũng đẹp nhất khi không đánh mất cội nguồn làm nên mình. Vì thế, câu kết “Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều” mang một sức ám ảnh vượt khỏi chuyện áo quần. Cái “bay đi” chính là chút hồn quê, chút nguyên sơ mà nhà thơ tha thiết muốn giữ lại. Chữ “ít nhiều” nhẹ tênh mà buồn đến nao lòng: chưa mất hẳn, nhưng đã không còn nguyên vẹn.

Nếu “Chân quê” đau đáu về sự phai nhạt của hồn quê thì “Lời thề cỏ may” lại xoáy sâu vào sự đổi thay của lòng người. Phạm Công Trứ dựng nên hai miền thời gian tương phản. Quá khứ là “Còn em lên bảy, theo tôi cả ngày”, là những đứa trẻ “chân đất đầu trần”, lấm láp mà trong veo; hiện tại lại là “Em ra tỉnh học em quên một người”. Đau nhất không phải “áo chẽn”, “quần bò”, mà là chữ “hững hờ” trong cuộc gặp lại. Nếu cô gái của Nguyễn Bính mới chỉ đổi thay dáng vẻ thì cô gái của Phạm Công Trứ dường như đã bước ra khỏi miền tình cảm cũ. Khoảng cách lớn nhất vì thế không phải khoảng cách giữa quê và tỉnh, mà là khoảng cách giữa hai trái tim từng rất gần nhau.

Nếu Nguyễn Bính để “hương đồng gió nội” bay đi thì Phạm Công Trứ lại để “một khoảng trời pha lê” vỡ xuống trong tâm hồn. Hình ảnh ấy đẹp mà đau: pha lê trong trẻo, lấp lánh nhưng cũng vô cùng mong manh, giống như mối tình tuổi nhỏ tưởng bền lâu mà chỉ một câu nói hững hờ cũng đủ làm tan vỡ. Và ám ảnh hơn cả là câu kết: “Có người ngồi gỡ lời thề cỏ may…”. “Cỏ may” vốn chỉ là thứ cỏ nhỏ bé ven đường, dễ mắc vào quần áo, nhưng qua bàn tay thi sĩ đã hóa thành biểu tượng của kí ức. Có thể gỡ những hạt cỏ may khỏi áo, nhưng làm sao gỡ được một lời thề khỏi trái tim? Câu thơ vì thế khép lại mà nỗi buồn vẫn mở ra, lan mãi vào khoảng trống của thời gian.

Những tương đồng và khác biệt ấy trước hết bắt nguồn từ sự gặp gỡ trong tình yêu đối với làng quê Việt Nam. Cả Nguyễn Bính và Phạm Công Trứ đều tìm thấy thi liệu từ những gì bình dị nhất của đồng đất, bờ đê, cỏ cây và con người. Tuy nhiên, mỗi nhà thơ thuộc một thời đại và mang một cảm quan nghệ thuật riêng. Nguyễn Bính là thi sĩ của phong trào Thơ mới nhưng hồn thơ lại neo sâu vào văn hóa làng quê truyền thống, vì thế câu chuyện tình trong “Chân quê” tự nhiên trở thành nỗi lo về sự phai nhạt của căn cước quê hương. Phạm Công Trứ thuộc thế hệ sau, nhìn tình yêu qua khoảng cách thời gian và hồi ức, nên “Lời thề cỏ may” đậm hơn nỗi buồn của trưởng thành, của kí ức và sự đổi thay lòng người. Thời đại tạo nên những miền cảm xúc khác nhau, còn cá tính sáng tạo quyết định cách mỗi thi sĩ cất tiếng.

Bởi vậy, đặt hai thi phẩm cạnh nhau không phải để tìm xem tiếng thơ nào hay hơn mà để nhận ra vẻ đẹp riêng của mỗi tiếng nói nghệ thuật. “Chân quê” là một kết tinh tiêu biểu cho hồn thơ Nguyễn Bính: dân dã mà tinh tế, mộc mạc mà sâu xa, qua tình yêu để nâng niu bản sắc văn hóa dân tộc. “Lời thề cỏ may” lại chinh phục người đọc bằng vẻ đẹp của kí ức, bằng nỗi buồn trong trẻo trước một tình yêu đã đi qua mà dư âm vẫn còn mắc lại trong lòng người. Một bài giữ “hương đồng gió nội”, một bài giữ “lời thề cỏ may”; khác nhau trong cách biểu đạt nhưng đều gặp nhau ở khát vọng lưu giữ những gì đẹp đẽ trước sức mạnh vô tình của đổi thay.

Có những bài thơ đọc xong, câu chữ khép lại nhưng một miền cảm xúc vẫn còn ở lại. “Chân quê” và “Lời thề cỏ may” là những bài thơ như thế. Đặt cạnh nhau, hai thi phẩm càng chứng minh vẻ đẹp của sáng tạo: thi sĩ có thể cùng bước vào một miền đề tài, cùng rung động trước một nỗi niềm, nhưng mỗi người phải để lại trên trang thơ một “vân chữ” của riêng mình. Và chính từ những “vân chữ không trộn lẫn” ấy, thơ vượt qua giới hạn của thời gian để còn mãi trong lòng người đọc.

Nguồn: Ths. Phan Danh Hiếu