Phân tích nhân vật chị Hoài trong “Mùa lá rụng trong vườn” (Ma Văn Kháng)

0
14

Phân tích nhân vật chị Hoài trong đoạn trích “Mùa lá rụng trong vườn” (SGK)

1. Chị Hoài là người con dâu hiếu thảo, người chị dâu được lòng các em
Chị Hoài vốn là vợ của anh Tường – người con trai cả của ông Bằng đã hi sinh. Sau đó, chị đã có một gia đình riêng, nhưng khoảng cách thời gian và sự thay đổi hoàn cảnh không làm chị quên mái nhà cũ. Chị vẫn trở về sum họp trong buổi chiều ba mươi Tết, vẫn có mặt trước bàn thờ tổ tiên như một thành viên thân thiết của gia đình. Nếu chỉ sống theo danh phận, chị có thể xem ngôi nhà ấy là một miền quá khứ đã khép lại; nhưng vì sống bằng nghĩa tình, chị vẫn coi nơi đây là một phần không thể tách rời khỏi cuộc đời mình.
Chị không trở về với tư cách một người khách mà trở về như một người con. Sự hiện diện của chị khiến mọi người hân hoan, xúc động bởi trong kí ức của các em, chị vẫn là người chị dâu dịu dàng, nhân hậu và chu đáo. Chị thấu hiểu từng người, hòa vào câu chuyện gia đình một cách tự nhiên. Lí thân mật ghé tai chị, “hí hửng” khoe mình biết khấn đúng bài kinh nhà Phật. Cử chỉ hồn nhiên ấy cho thấy giữa Lí và chị Hoài không hề có khoảng cách. Chị là người chị gần gũi, đáng tin cậy, có khả năng khiến người khác cảm thấy được sẻ chia.
Tình cảm của chị dành cho ông Bằng càng cho thấy tấm lòng hiếu thảo sâu nặng. Chị không chỉ kính trọng ông như cha chồng cũ mà thực sự xem ông là cha của mình. Bởi thế, sự trở về của chị trong chiều cuối năm là một sự trở về với người cha già, với các em và với mái ấm từng cưu mang tuổi trẻ của chị. Có những quan hệ được tạo nên bởi huyết thống, nhưng cũng có những tình thân được bồi đắp bằng năm tháng yêu thương; chị Hoài thuộc về gia đình ông Bằng bằng thứ tình thân bền chặt ấy.

2. Chị Hoài là người phụ nữ thủy chung, sống sâu nặng với quá khứ và cội nguồn
Vẻ đẹp nổi bật nhất của chị Hoài được thể hiện trong khoảnh khắc làm lễ trước bàn thờ tổ tiên. Khi ông Bằng cất lời khấn, “mắt chị Hoài đăm đắm ngước lên bàn thờ”. Từ láy “đăm đắm” không chỉ miêu tả một ánh nhìn chăm chú mà còn mở ra cả chiều sâu tâm trạng. Trong ánh mắt ấy có lòng thành kính đối với tổ tiên, có nỗi nhớ người chồng đã khuất, có sự xúc động khi được trở lại mái nhà xưa và có cả những kỉ niệm không dễ gọi thành lời.
Bàn thờ gia tiên trong giờ phút cuối năm không chỉ là một không gian tín ngưỡng mà còn là nơi quá khứ hiện về, nơi người đang sống được gặp lại những người đã khuất bằng kí ức và lòng biết ơn. Ngước nhìn bàn thờ, chị Hoài dường như đang nhìn lại cả một quãng đời của mình. Người chồng cũ không còn nữa, chị cũng đã đi qua nhiều đổi thay, nhưng ân nghĩa xưa vẫn nguyên vẹn trong trái tim chị. Thời gian có thể làm biến đổi hoàn cảnh sống, nhưng không thể xóa nhòa những tình cảm đã trở thành một phần máu thịt.
Đặc biệt, khi ông Bằng “vừa buông tay chắp, rút mùi xoa lau mắt, lui ra”, chị Hoài “liền thế chân ông cụ, hai tay nâng lên trước ngực”. Hành động “liền thế chân” diễn ra tự nhiên, thành kính, không một chút ngập ngừng. Chị không xem mình là người ngoài nên không cần ai mời gọi; chị tự nguyện tiếp nối nghi lễ của người cha, cúi mình trước tổ tiên của gia đình chồng cũ. Đôi tay “nâng lên trước ngực” là một cử chỉ nhỏ nhưng chứa đựng cả một nhân cách lớn: biết kính trọng người đã khuất, biết trân quý cội nguồn và biết giữ gìn những ân tình không thể đo đếm bằng danh phận.
Sự thủy chung của chị Hoài không phải là níu kéo quá khứ hay phủ nhận hiện tại. Chị đã có cuộc sống riêng nhưng vẫn gìn giữ những tình cảm cũ bằng một cách ứng xử đúng mực và nhân hậu. Chị sống trọn vẹn với hiện tại mà không phản bội kí ức; bước tiếp trên đường đời nhưng không quay lưng với những người từng là ruột thịt. Đó là sự thủy chung của một con người từng trải, hiểu rằng có những mối quan hệ tuy không còn được ràng buộc bằng danh nghĩa nhưng vẫn cần được gìn giữ bằng đạo lí.

3. Chị Hoài là hiện thân của vẻ đẹp truyền thống và sức mạnh gắn kết gia đình
Vẻ đẹp của chị Hoài càng trở nên nổi bật khi được đặt bên cạnh những rạn nứt trong gia đình ông Bằng. Trong lời khấn trang nghiêm, ông cụ đã không nhắc tên Cừ. Chi tiết “ông cụ đã gạt tên thằng Cừ” khiến mặt Luận biến sắc, gợi ra một nỗi đau âm thầm mà dữ dội. Cừ là con ruột nhưng lại xa rời gia đình, chối bỏ trách nhiệm và làm tổn thương truyền thống của mái nhà. Trái lại, chị Hoài tuy chỉ là con dâu cũ lại tha thiết trở về, thành kính đứng trước bàn thờ tổ tiên.
Sự đối lập ấy tạo nên một nghịch lí đầy day dứt: người có quan hệ huyết thống lại tự tách mình khỏi gia đình, trong khi người không còn ràng buộc về danh phận lại một lòng hướng về cội nguồn. Qua đó, Ma Văn Kháng cho thấy máu mủ có thể làm nên quan hệ ruột thịt, nhưng chỉ có tình yêu thương và trách nhiệm mới làm nên một gia đình thực sự. Chị Hoài vì thế trở thành minh chứng rằng tình thân không chỉ nằm trong huyết thống mà còn được tạo dựng từ lòng biết ơn, sự thủy chung và cách sống có trước có sau.
Sự hiện diện của chị góp phần đem lại không khí đoàn tụ cho bữa cơm tất niên. Mâm cỗ thịnh soạn do Lí dồn hết sự tỉ mỉ, tài hoa và tâm sức chuẩn bị không chỉ làm đầy chiếc bàn mà còn làm ấm căn nhà. Trong không gian ấy, chị Hoài không phải người trực tiếp chế biến các món ăn, nhưng sự trở về của chị đã góp phần khiến niềm vui sum họp trở nên trọn vẹn. Mọi người “hân hoan khác thường” vì bữa cơm không chỉ có thức ăn mà còn có sự trở về của tình nghĩa, có cuộc gặp gỡ giữa hiện tại và quá khứ, giữa những con người vẫn biết tìm về bên nhau sau bao cách trở.
Nếu Lí đem đến sự đủ đầy cho mâm cỗ bằng đôi tay khéo léo thì chị Hoài đem đến chiều sâu tinh thần cho buổi sum họp bằng tấm lòng son sắt. Chị giống như một sợi dây mềm mại mà bền chắc, âm thầm nối các thành viên, nối người còn sống với người đã khuất, nối hôm nay với những giá trị tốt đẹp của ngày xưa. Chị không lên tiếng giảng giải về đạo lí; chính sự trở về và cách ứng xử của chị đã trở thành một bài học sống động về đạo lí.

4. Nghệ thuật xây dựng nhân vật tinh tế, giàu sức gợi
Ma Văn Kháng khắc họa chị Hoài chủ yếu qua những chi tiết ngoại hiện được lựa chọn cô đọng: ánh mắt “đăm đắm”, hành động “liền thế chân”, đôi tay “nâng lên trước ngực”. Nhà văn không trực tiếp nói rằng chị hiếu thảo, thủy chung hay giàu tình nghĩa mà để vẻ đẹp ấy tự tỏa ra từ hành động. Cách viết này khiến nhân vật hiện lên chân thực, tự nhiên mà vẫn có chiều sâu.
Nhân vật còn được soi sáng qua tình huống đoàn tụ vào chiều ba mươi Tết – thời điểm thiêng liêng nhất của đời sống gia đình. Không gian bàn thờ, lời khấn, mâm cỗ và bữa cơm sum họp tạo nên một nền văn hóa truyền thống, từ đó làm nổi bật tấm lòng hướng về cội nguồn của chị Hoài. Thủ pháp đối lập giữa chị Hoài và Cừ cũng giúp nhà văn gửi gắm sâu sắc suy ngẫm về mối quan hệ giữa huyết thống và tình nghĩa, giữa danh phận và trách nhiệm.
Như vậy, chị Hoài là hình ảnh đẹp của người phụ nữ Việt Nam: hiếu thảo, thủy chung, nhân hậu và sống trọn vẹn với nghĩa tình. Chị đã rời khỏi gia đình ông Bằng về hình thức nhưng chưa bao giờ rời khỏi mái nhà ấy trong tâm tưởng. Giữa “mùa lá rụng” của những biến động và đổ vỡ, chị chính là phần rễ bền sâu còn ở lại, gìn giữ cho khu vườn gia đình không mất đi hơi ấm. Qua nhân vật, Ma Văn Kháng nhắn nhủ rằng: trước mọi đổi thay của cuộc sống, chỉ có tình thương, lòng biết ơn và ý thức hướng về cội nguồn mới giúp con người giữ được gia đình, đồng thời giữ được phần người đẹp đẽ nhất trong chính mình.

Nguồn: Ths. Phan Danh Hiếu

Các bài khácSo sánh hai bài thơ “Chân quê” và “Lời thề cỏ may”
Phan Danh Hiếu
"Kiến thức nhờ nhận nhiều mà có, trái tim nhờ cho đi mà giàu". Chúng ta không thể sống chỉ biết nhận mà không biết cho. Vậy nên chia sẻ kiến thức văn chương ở đây cũng chính là cho đi. Và cho đi là còn mãi. Mỗi ngày tôi không ngừng lên mạng để đọc và viết. Đam mê gắn liền với tình yêu thương khiến bản thân luôn thấy cuộc sống này thật đẹp....