Giải đề thi thử số 7 – Ngữ văn 12
Trích tài liệu khóa học Ngữ văn điểm 9+
ĐỀ THI THỬ TỐT NGHIỆP THPT SỐ 7
Môn: Ngữ văn
Thời gian: 120 phút
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
3.10.1971
(Suốt đêm qua không ngủ được. Cứ thức hoài vì những cảm giác nôn nao, rạo rực. 1 giờ sáng, khuya quá rồi. Phải vào màn ngủ. Ừ, cuộc sống bên trong của con người thật kì lạ, cứ nhớ, cứ nhớ… Nhớ ai, nào biết… mà sao không ngủ được).
Rừng chẳng nên thơ như ta tưởng tượng. Cây cao, xù xì nom rờn rợn. Vực sâu, dây leo chằng chịt, chứa đựng biết bao điều bí ẩn. Cuộc sống của ta sẽ kéo dài ở đó.
Dân tộc ở đây là gì? Mán hay Thổ? Ta chỉ mong nhìn thấy một cô gái Sán Dìu, quần đỏ, giữa mênh mông đồi cây. Bỗng nhớ một câu thơ có vần: Gà đánh trống…/ Khỉ leo thang/ Có những cô nàng/ Váy đỏ yếm trắng… ”. Sao lại nhớ đến câu ấy? Bạn hỏi vậy. Mình chẳng biết nữa. Hình như màu sắc, âm thanh, hình khối hoà trộn trong đó phù hợp phần nào với những cảnh mà mình đang chứng kiến.
Ai đã xây nên những đường hầm xuyên núi, bàn tay của ai đã lần lữa trên những mặt đá này. Ngồi bên cửa tàu chạy nhanh, gió thốc vào lành lạnh, cả hơi đất, hơi đá ẩm ướt, âm u. Toa tàu tối om. Không ai hé răng. Vì sợ hay vì lạ. Còn mình thì lạ, cứ thò đầu qua cửa, nhìn về phía cửa hầm. Bụi than bám đen cả mặt. Con tàu phóng thanh rung lên bần bật. Ánh nắng đây rồi, hối hả trên từng khuôn mặt. Ngoảnh lại phía sau, là ngọn đồi con tàu vừa chui qua. Vẫn cây lá ấy, bình thản vô tư lự… “Chuồn chuồn kim thân dài, cánh đỏ/ Em khâu gì trong áo xám của đồi cây… “
Có lẽ là như vậy. Yên lặng, bình thản trên đó, để dưới đáy sâu của nó, có con tàu băng băng chở đi một nguồn sinh lực mới…
Tàu ơi, cứ chạy đi, chạy nhanh đến những vùng đất nước xa xăm. Kìa là cây vào, cây bương, khác với lùm tre quen thuộc. Cái cây gì mà cao lạ lùng, trong suốt cả cuộc đời nó đã tiễn mấy chuyến tàu qua…
Bạn thì thào bên tai: Suối đấy, trong lắm. Nhưng đừng vội tắm… Ờ, dòng suối trong vắt, róc rách chảy dưới chân đồi. Những viên sỏi xanh đỏ tím vàng óng ánh đâu rồi? Mà chỉ thấy những chiếc lá úa vàng xoáy tròn và chìm nghỉm… Ðám mây ơi, mây trôi về đâu? Nhắn giùm ta tới người bạn ấy, rằng: ta nhớ lắm, nhớ bồi hồi. Ta gục đầu xuống bàn… Rồi sau đó thì sao, P. không biết nữa, P. không muốn biết nữa, vì khi đó, T. gần quá, đến nỗi không thể chấp nhận được câu trả lời ấy…
Anh câu gì bên dòng suối ấy? Tôi nhìn rõ lắm sợi cước trong trong như một tia nắng cong queo trên mặt nước. Cuộc sống thanh bình biết mấy, trong một dáng văng cần, trong một bóng mát của vành mũ lá…
Lính ào qua cửa sổ, sỏi dưới chân cũng mang màu đỏ quạch của núi đồi. Nắng gắt, choang choáng. Ga này cũng không biết tên nữa. Chỉ có bưởi, quả bưởi trên rừng nhỏ như nắm tay và khô. Dùng tạm vậy. Tất nhiên là phải có tiền. Mệt, nhưng mọi người đều hồ hởi và hể hả. Khoan khoái ngồi trong bóng của ngôi nhà lợp nứa. Chẳng có nước. Trời nắng – giở bánh mì ra ăn, nghẹn lại nơi cổ họng… Tạm biệt, con tàu màu xanh, đi đi… Xa hơn nữa là Bố Hạ, cam Bố Hạ… là sông Thương… Còn ở đây, khét cháy…
(Trích chương 3, Mãi mãi tuổi hai mươi, Nguyễn Văn Thạc, NXB Thanh Niên)
Trả lời câu hỏi:
Câu 1. Đoạn trích sử dụng ngôi trần thuật nào?
Câu 2. Chỉ ra các yếu tố phi hư cấu trong đoạn trích trên.
Câu 3. Việc dẫn vào những câu thơ trong đoạn trích có tác dụng gì?
Câu 4. Chỉ ra một chi tiết thể hiện cảm xúc hoặc suy nghĩ trực tiếp của người viết trong đoạn trích. Việc bộc lộ cảm xúc ấy giúp văn bản trở nên như thế nào?
Câu 5. Theo anh/chị, hình ảnh con tàu trong đoạn trích gợi lên những ý nghĩa gì? (Trình bày 5-7 dòng.)
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
Anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày cảm nhận về vẻ đẹp tâm hồn của người lính trong hoàn cảnh chiến tranh được thể hiện qua đoạn trích ở phần Đọc hiểu.
Câu 2. (4,0 điểm)
Có ý kiến cho rằng: Ta không được chọn nơi mình sinh ra nhưng ta được chọn cách mình sẽ sống
Anh/chị hãy viết bài văn (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của bản thân về ý kiến trên.
—HẾT—
GIẢI ĐỀ SỐ 7 – NHẬT KÝ
Câu 1. Đoạn trích sử dụng ngôi trần thuật nào?
– Ngôi trần thuật thứ nhất.
– Dấu hiệu nhận biết: Người viết xưng “ta”, “mình”, “tôi”.
Câu 2. Chỉ ra các yếu tố phi hư cấu trong đoạn trích trên.
* Các yếu tố phi hư cấu trong đoạn trích:
– Thời gian cụ thể, xác thực:
- “3.10.1971”
- “1 giờ sáng, khuya quá rồi”
– Hình thức nhật kí cá nhân: Ghi lại trực tiếp diễn biến tâm trạng, cảnh vật, suy nghĩ trong một thời điểm cụ thể.
– Con người và tâm trạng có thật của người viết: Cảm giác “nôn nao, rạo rực”, “nhớ bồi hồi”, “mệt, nhưng mọi người đều hồ hởi và hể hả”.
– Địa danh cụ thể: “Bố Hạ”, “sông Thương”
– Tác giả là nhân vật có thật: Đoạn trích từ nhật kí Mãi mãi tuổi hai mươi của Nguyễn Văn Thạc.
Câu 3. Việc dẫn vào những câu thơ trong đoạn trích có tác dụng gì?
– Các câu thơ được dẫn:
+ “Chuồn chuồn kim thân dài, cánh đỏ/ Em khâu gì trong áo xám của đồi cây…”
+ “Gà đánh trống…/ Khỉ leo thang/ Có những cô nàng/ Váy đỏ yếm trắng… ”
– Tác dụng: Việc dẫn những câu thơ vào đoạn trích giúp lời nhật kí thêm trữ tình, giàu cảm xúc và hình ảnh; đồng thời thể hiện tâm hồn lãng mạn, nhạy cảm, giàu rung động của người lính Nguyễn Văn Thạc giữa hành trình gian khổ.
Câu 4. Chỉ ra một chi tiết thể hiện cảm xúc hoặc suy nghĩ trực tiếp của người viết trong đoạn trích. Việc bộc lộ cảm xúc ấy giúp văn bản trở nên như thế nào?
-Một chi tiết tiêu biểu
– Có thể chọn một trong các chi tiết sau:
“Suốt đêm qua không ngủ được. Cứ thức hoài vì những cảm giác nôn nao, rạo rực.”
“Ta nhớ lắm, nhớ bồi hồi.”
“Ta chỉ mong nhìn thấy một cô gái Sán Dìu, quần đỏ, giữa mênh mông đồi cây.”
“Tàu ơi, cứ chạy đi, chạy nhanh đến những vùng đất nước xa xăm.”
-Phân tích
Chi tiết: “Suốt đêm qua không ngủ được. Cứ thức hoài vì những cảm giác nôn nao, rạo rực.”
Chi tiết ấy giúp văn bản trở nên chân thực, giàu cảm xúc, gần gũi và thấm đẫm chất trữ tình, làm hiện lên rõ nét tâm hồn nhạy cảm của người viết.
Câu 5. Theo anh/chị, hình ảnh con tàu trong đoạn trích gợi lên những ý nghĩa gì? (Trình bày 5-7 dòng.)
Gợi ý:
- Hình ảnh con tàu trước hết gợi lên hành trình đi tới những miền đất xa xăm của Tổ quốc, mở ra không gian rộng lớn, mới mẻ và nhiều thử thách.
- Con tàu còn là biểu tượng của nhịp vận động của đất nước trong thời chiến, chở theo con người, sức trẻ và khát vọng lên đường.
- Trong cảm nhận của người viết, con tàu dường như mang theo “một nguồn sinh lực mới”, vì thế nó tượng trưng cho niềm tin, hi vọng và sức sống.
- Đồng thời, con tàu cũng gợi nỗi chia xa, sự từ biệt những gì thân thuộc để bước vào một chặng đường mới.
- Qua hình ảnh ấy, ta thấy hiện lên tâm hồn người lính trẻ: vừa tha thiết yêu cuộc sống, vừa sẵn sàng dấn thân vì đất nước.
II. VIẾT
Câu 1. (2,0 điểm)
Anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày cảm nhận về vẻ đẹp tâm hồn của người lính trong hoàn cảnh chiến tranh được thể hiện qua đoạn trích ở phần Đọc hiểu.
DÀN Ý
1.Mở đoạn (1 câu – chứa từ khóa)
Giới thiệu vấn đề: Đoạn trích nhật kí của Nguyễn Văn Thạc đã khắc họa vẻ đẹp tâm hồn người lính trẻ trong chiến tranh.
2.Thân đoạn
b1. Nội dung
Ý 1: Tâm hồn nhạy cảm, giàu cảm xúc
- Nhạy cảm trước thiên nhiên: Rừng núi, suối, mây, ánh sáng…
- Dễ rung động: “nhớ bồi hồi”, “nôn nao, rạo rực”
→ Người lính không khô khan mà rất giàu chất thơ.
Ý 2: Tâm hồn lãng mạn, giàu mộng tưởng
- Liên tưởng, nhớ thơ, hình ảnh đẹp: Váy đỏ, cô gái Sán Dìu, chuồn chuồn kim…
- Nhìn cuộc sống bằng con mắt nghệ sĩ
→ Giữ được chất lãng mạn giữa chiến tranh khốc liệt.
Ý 3: Tình yêu cuộc sống và khát vọng dấn thân
- Hào hứng trước hành trình: “Tàu ơi, cứ chạy đi…”
- Sẵn sàng đi tới những miền xa
→ Thể hiện: lý tưởng sống đẹp; tinh thần dấn thân vì đất nước
Ý 4: Nỗi nhớ, tình cảm sâu nặng
- Nhớ bạn bè, con người: “ta nhớ lắm, nhớ bồi hồi” → Người lính sống rất tình nghĩa, giàu yêu thương.
b2. Nghệ thuật: Trần thuật hấp dẫn, sinh động; hình ảnh, cảm xúc chân thực…
3.Kết đoạn
- Khẳng định: Người lính hiện lên với vẻ đẹp: trẻ trung – lãng mạn – giàu cảm xúc – giàu lý tưởng. Thể hiện sự trân trọng thế hệ trẻ thời chiến.
ĐOẠN MẪU
Đoạn trích nhật kí của Nguyễn Văn Thạc đã mở ra trước người đọc một thế giới nội tâm trong trẻo mà sâu thẳm, qua đó khắc họa vẻ đẹp tâm hồn người lính trẻ giữa những năm tháng chiến tranh khốc liệt. Trước hết, đó là một tâm hồn nhạy cảm, giàu cảm xúc, luôn rung lên trước thiên nhiên và cuộc sống. Giữa rừng núi “cây cao, xù xì nom rờn rợn”, giữa những dòng suối “trong vắt” và ánh sáng “hối hả trên từng khuôn mặt”, người lính không chỉ nhìn mà còn lắng nghe, cảm nhận bằng cả trái tim. Những dòng chữ “suốt đêm qua không ngủ được… nôn nao, rạo rực”, hay “ta nhớ lắm, nhớ bồi hồi” như những nhịp đập thổn thức của một tâm hồn trẻ, chứng tỏ người lính không hề khô khan, mà rất đỗi lãng mạn. Không dừng lại ở đó, người lính còn mang trong mình tâm hồn trẻ trung, giàu mộng tưởng, khi giữa cuộc hành quân gian khổ vẫn bâng khuâng nhớ về “cô gái Sán Dìu, quần đỏ”, để rồi những câu thơ bất chợt hiện về: “Chuồn chuồn kim thân dài, cánh đỏ…”, như những mảnh sáng dịu dàng nâng đỡ tâm hồn giữa hiện thực khắc nghiệt. Chính chất lãng mạn ấy đã trở thành điểm tựa tinh thần, giúp con người vượt qua gian khó. Đồng thời, người lính hiện lên với tình yêu cuộc sống mãnh liệt và khát vọng dấn thân cháy bỏng, thể hiện qua lời gọi đầy thiết tha: “Tàu ơi, cứ chạy đi, chạy nhanh đến những vùng đất nước xa xăm” – một lời giục giã không chỉ dành cho con tàu mà còn là tiếng gọi của lý tưởng, của tuổi trẻ đang hướng về phía trước. Ẩn sâu trong đó còn là nỗi nhớ và tình cảm sâu nặng, khi “ta nhớ lắm, nhớ bồi hồi”, một nỗi nhớ mơ hồ mà da diết, làm nên chiều sâu nhân bản cho hình tượng người lính. Nguyễn Tuân từng nói: “Kí là nơi cái tôi được sống hết mình với sự thật và cảm xúc của nó”, còn Tô Hoài cũng khẳng định: “Viết kí là ghi lại cái thật của đời sống nhưng phải làm hiện lên cái thật của lòng người”. Chính vì thế, hình tượng người lính trong đoạn trích không chỉ là con người của chiến tranh mà còn là con người của cảm xúc, của mộng tưởng, của lý tưởng sống đẹp. Về nghệ thuật, đoạn trích mang đậm đặc trưng của thể loại kí: trần thuật chân thực, cảm xúc trực tiếp, ngôn ngữ giàu hình ảnh và liên tưởng tinh tế. Qua đó tác giả đã khắc họa bức chân dung người lính với vẻ đẹp trẻ trung – lãng mạn – giàu cảm xúc – giàu lý tưởng, khiến ta không khỏi xúc động, trân trọng và biết ơn một thế hệ đã sống và cháy hết mình cho Tổ quốc.
Câu 2.
Ta không được chọn nơi mình sinh ra nhưng ta được chọn cách mình sẽ sống.
Anh/chị hãy viết bài văn (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của bản thân về ý kiến trên.
DÀN Ý
I.Mở bài
- Giới thiệu vấn đề: Cuộc đời mỗi con người là một hành trình, nơi có những điều nằm ngoài ý muốn chủ quan, nhưng cũng có những điều thuộc về sự lựa chọn và nỗ lực cá nhân.
- Dẫn dắt vào câu nói: Ý kiến “Ta không được chọn nơi mình sinh ra nhưng ta được chọn cách mình sẽ sống” là một triết lý nhân sinh sâu sắc, khẳng định vai trò của ý chí và trách nhiệm cá nhân trước số phận.
II.Thân bài
1.Giải thích
- “Nơi mình sinh ra”: Hoàn cảnh xuất thân, gia đình, điều kiện kinh tế, xã hội, hay những yếu tố khách quan mà mỗi người có được ngay từ khi chào đời. Đây là điều không ai có thể tự quyết định.
- “Cách mình sẽ sống”: Là lối sống, thái độ, hành động, những giá trị mà mỗi người lựa chọn để theo đuổi và xây dựng cuộc đời mình.
- Ý nghĩa tổng quát: Con người không thể thay đổi điểm xuất phát (hoàn cảnh khách quan) nhưng hoàn toàn có quyền quyết định hành trình phía trước (ý chí chủ quan). Số phận một phần do trời định, nhưng phần lớn là do chính mình tạo nên.
2.Bàn luận
Luận điểm 1: Nơi sinh ra không quyết định tất cả giá trị của một con người.
- Lịch sử và thực tế chứng minh nhiều người xuất thân từ hoàn cảnh khó khăn, bất hạnh vẫn vươn lên thành công (ví dụ: các nhà khoa học, doanh nhân, nghệ sĩ từ nghèo khó).
- Dẫn chứng: Trần Tôn Trung Sơn, quê Quảng Trị. Cậu bé sinh ra với cánh tay trái teo tóp, bàn tay phải chỉ vỏn vẹn hai ngón. Nhưng với hai ngón tay ấy, Sơn viết nên bài luận khiến giáo sư Harvard rơi nước mắt. Từ đứa trẻ khuyết tật bị ruồng bỏ, Sơn trở thành quản lý tập đoàn IBM, chứng minh nghị lực phi thường có thể đưa con người vượt lên mọi định kiến.
- Ngược lại, có người sinh ra trong điều kiện thuận lợi nhưng thiếu ý chí, sống thụ động, thậm chí sa ngã, không để lại dấu ấn tích cực.
Luận điểm 2: Cách sống là sự lựa chọn mang tính quyết định đến ý nghĩa cuộc đời.
- Con người được tự do lựa chọn thái độ sống: dù trong hoàn cảnh nào, ta vẫn có thể chọn lạc quan, kiên cường hay bi quan, buông xuôi.
- Cách sống thể hiện qua hành động cụ thể: không ngừng học hỏi, lao động, sáng tạo, sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội.
Luận điểm 3: Mối quan hệ biện chứng giữa hoàn cảnh và ý chí.
- Hoàn cảnh có thể tạo ra thử thách, nhưng không thể bó buộc toàn bộ tương lai của một người nếu họ có bản lĩnh.
- Chính sự lựa chọn cách sống đúng đắn sẽ giúp con người biến nghịch cảnh thành động lực, thay đổi vị thế và đóng góp cho đời.
3. Phản đề / Ý kiến trái chiều
- Có quan điểm cho rằng: “Hoàn cảnh sinh ra đã định đoạt số phận”, hay “nghèo khó thì khó vươn lên”. Đây là lối suy nghĩ thụ động, bi quan, đổ lỗi cho số phận.
- Tuy nhiên, cần thừa nhận rằng không phải ai cũng có đủ điều kiện và cơ hội như nhau. Sự lựa chọn cách sống đôi khi bị giới hạn bởi những rào cản lớn. Vì vậy, bên cạnh nỗ lực cá nhân, xã hội cần có chính sách hỗ trợ để tạo công bằng về cơ hội.
- Dù vậy, tinh thần của câu nói vẫn mang giá trị nhân văn sâu sắc, khích lệ con người không đầu hàng số phận.
4.Bài học nhận thức và hành động
- Nhận thức: Mỗi người cần hiểu rõ mình không thể thay đổi quá khứ hay hoàn cảnh xuất phát, nhưng hoàn toàn làm chủ tương lai bằng thái độ sống tích cực và hành động đúng đắn.
- Hành động:
- Không ngừng rèn luyện, học tập, trau dồi kỹ năng và đạo đức để có đủ bản lĩnh lựa chọn lối sống tốt đẹp.
- Sống có trách nhiệm, dám ước mơ và kiên trì theo đuổi mục tiêu, dù gặp khó khăn.
- Biết trân trọng những gì mình có, đồng thời nỗ lực vươn lên để không hổ thẹn với bản thân.
III. Kết bài
- Khẳng định lại tính đúng đắn và ý nghĩa nhân văn của câu nói: dù không thể chọn nơi sinh ra, nhưng cách chúng ta sống mới thực sự định nghĩa con người chúng ta.
- Liên hệ bản thân: Mỗi người trẻ hãy ý thức được quyền lựa chọn và trách nhiệm với cuộc đời mình, chủ động viết nên câu chuyện của chính mình bằng nghị lực và khát vọng.
Ths. Phan Danh Hiếu




















